3. Số mắc và tử vong do sốt rét ở khu vực châu Phi, 2000-2024
Khu vực châu Phi có 265 triệu ca mắc sốt rét (Bảng 3), chiếm 94% tổng số
ca mắc trên toàn cầu trong năm 2024. Có 5 quốc gia chiếm hơn một nửa tổng số ca
mắc trong khu vực gồm Nigeria (25,8%), CHDC Congo (13,3%), Uganda (5,0%),
Ethiopia (4,7%) và Mozambique (3,9%) (Hình 7c).
Giai đoạn 2000-2015, số ca mắc sốt rét tăng 5,4%, từ 203 triệu ca năm 2000
lên 214 triệu ca năm 2015 và số ca mắc tiếp tục tăng thêm 23,8% trong giai đoạn
2015-2024. Riêng từ năm 2023 đến năm 2024, số ca mắc tăng thêm 9 triệu ca (+3,5%).
Các quốc gia có số ca mắc tăng nhiều nhất trong giai đoạn này gồm Ethiopia
(+2,9 triệu), Madagascar (+1,9 triệu), CHDC Congo (+762.000), Angola (+420.000)
và Rwanda (+351.000). Từ năm 2023 đến năm 2024, riêng Zimbabwe đã báo cáo số ca
mắc giảm 76,6% (-487.000 ca). Tỷ lệ mắc bệnh đã giảm 31,3% trong giai đoạn từ năm
2000 đến năm 2015, nhưng kể từ đó tỷ lệ này vẫn không thay đổi.
Năm 2024, tỷ lệ mắc là 237,6 ca/1.000 dân số nguy cơ, tăng chưa đến 1% so
với năm 2023 (235,5/1000 dân số có nguy cơ) (Hình 7a). Các quốc gia có tỷ lệ mắc
tăng cao nhất gồm Rwanda (+43,8%), Madagascar (+27,7%) và Ethiopia (+26,7%). Tỷ
lệ mắc giảm nhẹ (1%) được ghi nhận tại CHDC Congo, nhưng số ca mắc thì tăng nhẹ
do dân số tăng.
Tại Rwanda, sự gia tăng tỷ lệ mắc sốt rét có thể là do nhiều yếu tố, bao gồm
biến đổi khí hậu như nhiệt độ tăng, độ ẩm tăng và lượng mưa lớn hơn, cùng với đó
là KSTSR kháng thuốc, muỗi kháng hóa chất diệt côn trùng và những thay đổi tập
tính đốt mồi của muỗi sốt rét có thể làm giảm hiệu quả của các biện pháp kiểm
soát hiện có. Ngoài ra, việc giảm phạm vi bao phủ các biện pháp can thiệp, kiểm
soát véc tơ tích hợp do hạn chế về kinh phí có thể đã góp phần vào sự tái bùng
phát, đặc biệt là ở những khu vực trước đây đã triển khai nhiều biện pháp can
thiệp kiểm soát véc tơ. Tương tự ở Ethiopia, sự gia tăng các trường hợp sốt rét
có thể là do nhiều yếu tố, bao gồm việc thực hiện không tối ưu hoặc gián đoạn
các biện pháp phòng chống và kiểm soát sốt rét ở các khu vực bị ảnh hưởng bởi
xung đột, những thách thức mang tính hệ thống trong việc cung cấp dịch vụ y tế
và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
Tại Madagascar, sự gia tăng tỷ lệ mắc sốt rét được cho là do sự kết hợp
các yếu tố từ sinh thái, dịch tễ học và các hoạt động của hệ thống y tế. Các hiện
tượng thời tiết cực đoan đã tạo môi trường thuận lợi cho muỗi Anopheles sinh sản, đồng thời gây thiệt
hại các cơ sở hạ tầng và hạn chế khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế.
Màn tồn lưu lâu (LLIN) được cấp vào năm 2021 đã vượt quá thời hạn sử dụng
hiệu quả và chiến dịch thay thế tiếp theo đã trì hoãn đến cuối năm 2024, dẫn đến
giảm hiệu quả kiểm soát muỗi sốt rét. Việc sử dụng màn LLIN vẫn ở dưới mức mục
tiêu và các hoạt động sàng lọc cộng đồng mở rộng đã làm tăng việc phát hiện các
trường hợp nhiễm bệnh không triệu chứng.
Bảng 3. Số ca mắc và tử vong sốt
rét ở khu vực châu Phi, 2000-2024
|
Năm
|
Số ca mắc
(x1.000)
|
%
P. vivax
|
Số ca tử
vong
|
|
Ước tính
|
Cận dưới
|
Cận trên
|
Ước tính
|
Cận dưới
|
Cận trên
|
|
2000
|
203.000
|
189.000
|
220.000
|
0.0%
|
804.000
|
781.000
|
834.000
|
|
2001
|
211.000
|
195.000
|
229.000
|
0.9%
|
815.000
|
789.000
|
851.000
|
|
2002
|
211.000
|
195.000
|
229.000
|
0.9%
|
786.000
|
761.000
|
819.000
|
|
2003
|
215.000
|
198.000
|
236.000
|
1.1%
|
758.000
|
733.000
|
792.000
|
|
2004
|
216.000
|
197.000
|
244.000
|
1.2%
|
751.000
|
722.000
|
803.000
|
|
2005
|
215.000
|
198.000
|
237.000
|
0.8%
|
712.000
|
686.000
|
755.000
|
|
2006
|
215.000
|
197.000
|
237.000
|
1.0%
|
723.000
|
695.000
|
766.000
|
|
2007
|
213.000
|
196.000
|
234.000
|
1.0%
|
704.000
|
677.000
|
742.000
|
|
2008
|
212.000
|
196.000
|
230.000
|
0.8%
|
666.000
|
641.000
|
700.000
|
|
2009
|
217.000
|
200.000
|
238.000
|
1.0%
|
673.000
|
646.000
|
716.000
|
|
2010
|
219.000
|
200.000
|
241.000
|
1.1%
|
650.000
|
620.000
|
698.000
|
|
2011
|
215.000
|
198.000
|
237.000
|
1.4%
|
618.000
|
592.000
|
658.000
|
|
2012
|
213.000
|
197.000
|
233.000
|
1.5%
|
578.000
|
552.000
|
616.000
|
|
2013
|
212.000
|
196.000
|
230.000
|
1.2%
|
556.000
|
526.000
|
598.000
|
|
2014
|
209.000
|
194.000
|
227.000
|
0.7%
|
550.000
|
518.000
|
601.000
|
|
2015
|
214.000
|
198.000
|
233.000
|
0.6%
|
550.000
|
517.000
|
605.000
|
|
2016
|
215.000
|
199.000
|
234.000
|
0.4%
|
546.000
|
513.000
|
602.000
|
|
2017
|
225.000
|
208.000
|
244.000
|
0.3%
|
548.000
|
513.000
|
608.000
|
|
2018
|
225.000
|
208.000
|
244 000
|
0.2%
|
552.000
|
514.000
|
624.000
|
|
2019
|
227.000
|
209.000
|
249 000
|
0.3%
|
545.000
|
505.000
|
626.000
|
|
2020
|
239.000
|
217.000
|
266 000
|
0.3%
|
598.000
|
553.000
|
711.000
|
|
2021
|
242.000
|
219.000
|
270 000
|
0.3%
|
577.000
|
535.000
|
691.000
|
|
2022
|
245.000
|
221.000
|
273 000
|
0.5%
|
573.000
|
530.000
|
698.000
|
|
2023
|
256.000
|
231.000
|
286 000
|
1.1%
|
567.000
|
520.000
|
694.000
|
|
2024
|
265.000
|
238.000
|
296 000
|
1.7%
|
579.000
|
531.000
|
706.000
|
Năm 2024, có 579.000 ca tử vong do sốt rét ở Châu Phi (Bảng 3), chiếm 95%
tổng số ca tử vong do sốt rét trên toàn cầu. Có 3 quốc gia gồm Nigeria (31,9%),
CHDC Congo (11,7%) và Niger (6,1%), chiếm một nửa tổng số ca tử vong trong khu
vực. Hơn 75% tổng số ca tử vong trong khu vực là ở trẻ em dưới 5 tuổi.
Trong khu vực, sau khi số ca tử vong do sốt rét giảm gần 1/3 từ năm 2000 đến
năm 2015, thì xu hướng giảm này đã đảo ngược trong giai đoạn năm 2015-2024, khi
tổng số ca tử vong trong giai đoạn này tăng 5%.
Từ năm 2023 đến năm 2024, số tử vong tăng gần 12.000 ca, với hơn 75% số tử
vong tăng ở Ethiopia và Madagascar, nơi số ca tử vong tăng lần lượt là 20,4% và
30,9%. Ngược lại, Zimbabwe đã giảm mạnh (76,6%) số ca tử vong từ năm 2023 đến
năm 2024.
Từ năm 2000 đến năm 2015, tỷ lệ tử vong giảm hơn 1/2, từ 140 xuống còn
62,5/100.000 dân số có nguy cơ. Kể từ năm 2015, tốc độ giảm này đã chậm lại, chỉ
giảm thêm 17%. Tỷ lệ tử vong giảm nhẹ vào năm 2024, giảm xuống còn 51,9/100.000
dân số có nguy cơ, so với năm 2023 (52,2 trên 100.000 dân số nguy cơ) (Hình 7b).
Kể từ năm 2015, tốc độ giảm số ca mắc và ca tử vong đã chững lại ở một số
quốc gia trong khu vực có mức độ lưu hành sốt rét từ trung bình đến cao. Tình
hình này trở nên trầm trọng hơn, đặc biệt là ở cận Sahara châu Phi, do các hiện
tượng thời tiết cực đoan dưới tác động biến đổi khí hậu và các cuộc khủng hoản nhân
đạo.
Phân tích tiến trình thực hiện các mục tiêu của Chiến lược Kỹ thuật Toàn cầu
(GTS) trong năm 2025 cho thấy, vào năm 2024, Châu Phi không đạt được cả các cột
mốc về tỷ lệ mắc và tử vong do sốt rét.
Tỷ lệ mắc năm 2024 cao hơn gấp ba lần so với mục tiêu GTS là 74,1 ca/1000
dân số nguy cơ, và tỷ lệ tử vong cao hơn 2,7 lần so với mục tiêu GTS là 19 ca tử
vong trên 100.000 dân số có nguy cơ (Hình 8). Algeria và Cabo Verde đã được chứng
nhận LTSR. Rwanda, Nam Phi và Zimbabwe đều đang trên đà đạt được cột mốc năm
2025 là giảm ít nhất 75% tỷ lệ mắc bệnh sốt rét, bất chấp số ca mắc tăng trong
giai đoạn 2023-2024.
Mặc dù chưa đạt được mục tiêu đề ra, nhưng có thêm 21 quốc gia (47,7%) đã
đạt được mức giảm tỷ lệ mắc sốt rét vào năm 2024 so với năm 2015 (Hình 5). Ngược
lại, các nước gồm Comoros, Eritrea, Madagascar và Sao Tome và Principe đã ghi
nhận tỷ lệ mắc tăng từ 70% trở lên kể từ năm 2015.
Hình
7. Xu hướng sốt rét (a) Tỷ lệ mắc sốt rét (ca mắc/1000 dân số nguy cơ)
và (b) Tỷ lệ tử vong /100.000 dân số nguy cơ, 2000-2024; và (c)
ca sốt rét theo nước khu vực Châu Phi, 2024
Botswana, Eswatini, Nam Phi và Zimbabwe đều đạt được mục tiêu về tử vong của
GTS, với ước tính không có ca tử vong do sốt rét nào hoặc tỷ lệ tử vong giảm từ
70% trở lên vào năm 2024 so với năm 2015 (Hình 6). Có thêm 32 quốc gia (72,7%)
có tỷ lệ tử vong giảm, nhưng thấp hơn mục tiêu 70%. Comoros, Eritrea, Madagascar
và Sao Tome và Principe đã ghi nhận sự gia tăng tỷ lệ tử vong từ 70% trở lên kể
từ năm 2015.
Hình 8. So sánh tiến độ giảm
(a) Tỷ lệ mắc mới và (b) Tỷ lệ tử vong do sốt rét tại Châu
Phi theo hai kịch bản: Duy trì xu hướng hiện tại (xanh dương) và Đạt GTS (xanh
lá cây)
(còn nữa) --->Tiếp theo Phần 3
TS. Đỗ Văn Nguyên và
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
Viện Sốt
rét-KST-CT Quy Nhơn