Hội thảo, hội nghị quốc tế và đào tạo, trao đổi chuyên gia
Trong 10 năm qua, Viện đã tích cực tổ chức và tham gia nhiều hội thảo, hội nghị, tọa đàm quốc tế và khu vực về phòng, chống sốt rét và bệnh truyền nhiễm, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động đào tạo, tập huấn và trao đổi chuyên gia. Các hoạt động này được triển khai gắn kết chặt chẽ, tạo thành diễn đàn vừa trao đổi chuyên môn, cập nhật tiến bộ khoa học, vừa kết nối hiệu quả giữa các nhà khoa học, chuyên gia trong và ngoài nước.
Thông qua đó, cán bộ của Viện có cơ hội tham gia các chương trình đào tạo ngắn hạn, dài hạn ở nước ngoài, đồng thời tiếp nhận chuyên gia quốc tế đến làm việc, giảng dạy và chuyển giao kỹ thuật. Sự kết hợp giữa hội thảo chuyên môn và đào tạo thực tiễn đã góp phần nâng cao rõ rệt năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiên cứu và khả năng hội nhập quốc tế của đội ngũ cán bộ, viên chức.
Qua các hoạt động này, Viện không chỉ củng cố năng lực nội tại mà còn từng bước khẳng định vai trò và vị thế trong mạng lưới y tế dự phòng khu vực và quốc tế.
Lãnh đạo và cán bộ Viện cùng các chuyên gia quốc tế và khu vực tại Hội thảo đánh giá giữa kỳ Chương trình sốt rét tại Việt Nam năm 2022 do Tổ chức Y tế thế giới tổ chức tại Hà Nội với sự hỗ trợ tài chính của Quỹ toàn cầu Phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét.

Lãnh đạo và cán bộ Viện tham dự Hội thảo xét nghiệm ký sinh trùng sốt rét năm 2023 tại Văn phòng Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam.

PGS.TS.BS. Hồ Văn Hoàng tham dự Hội thảo giám sát và loại trừ sốt rét tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng năm 2024.

Đoàn cán bộ Viện tham dự Hội thảo “Một Sức khỏe Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng” (GMS-One Health) tại thành phố Khon Kaen, Thái Lan năm 2025. Ảnh: Thực địa tại hồ Lawa (Thái Lan) trong khuôn khổ hội thảo GMS-One Health 2025: tham quan các mô hình “Một Sức khỏe” (trạm y tế, trường học không sán lá gan nhỏ, hộ chế biến cá, quản lý vật nuôi - môi trường), góp phần nâng cao năng lực kiểm soát bệnh, học tập mô hình Lawa và tăng cường kết nối chuyên môn trong khu vực; qua đó, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiên cứu và khả năng hội nhập quốc tế của đội ngũ cán bộ, viên chức được nâng cao rõ rệt.

Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn phối hợp với Văn phòng Đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam tổ chức Khóa đánh giá năng lực xét nghiệm viên sốt rét (External Competency Assessment of Malaria Microscopists_ECAMM) năm 2023 tại thành phố Quy Nhơn với sự tham gia của các xét nghiệm viên từ ba viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng (Trung ương, Quy Nhơn và Thành phố Hồ Chí Minh).Ảnh: PSG.TS.BS. Hồ Văn Hoàng - Viện trưởng Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn chụp ảnh lưu niệm cùng các cán bộ tham gia Khoá Đánh giá ECAMM 2023.
Kết quả và tác động
Thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn đã đạt được những kết quả rõ rệt trên nhiều phương diện. Năng lực nghiên cứu khoa học và chuyên môn kỹ thuật được nâng cao thông qua việc triển khai các nghiên cứu chất lượng, tiếp cận phương pháp và công nghệ hiện đại; đồng thời, đội ngũ cán bộ được đào tạo bài bản, từng bước trưởng thành và có khả năng tham gia hiệu quả các chương trình, dự án trong nước và quốc tế.
Các kết quả hợp tác đã được chuyển hóa trực tiếp vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống sốt rét, bệnh ký sinh trùng và côn trùng truyền bệnh tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Nhiều giải pháp chuyên môn, phác đồ điều trị và biện pháp can thiệp được hoàn thiện trên cơ sở bằng chứng khoa học, phù hợp với điều kiện thực tế.
Hợp tác quốc tế vì vậy đã mang lại các tác động nổi bật như nâng cao năng lực nghiên cứu và làm chủ kỹ thuật chuyên sâu; phát triển đội ngũ cán bộ chất lượng cao; tăng cường hiệu quả giám sát và kiểm soát dịch bệnh tại khu vực. Qua đó, Viện tiếp tục củng cố chất lượng hoạt động chuyên môn và từng bước khẳng định vai trò, uy tín trong mạng lưới y tế dự phòng khu vực và quốc tế.
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn phối hợp Đơn vị nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford tại Việt Nam (OUCRU-VN) tổ chức Hội thảo Sơ kết hoạt động nghiên cứu dịch tễ di truyền ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc tại thành phố Quy Nhơn năm 2023.
Lãnh đạo và cán bộ Viện chụp ảnh lưu niệm cùng đoàn chuyên gia của Đơn vị Nghiên cứu Y học Hải quân Mỹ khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (NAMRU-IP) tại Singapore và Việt Nam nhân chuyến thăm và thảo luận nghiên cứu khoa học với Viện năm 2025. Đánh giá chung
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác hợp tác quốc tế của Viện vẫn còn đối mặt với một số thách thức như nguồn lực hạn chế, yêu cầu ngày càng cao về năng lực ngoại ngữ, quản lý dự án và áp lực hội nhập sâu trong bối cảnh hợp tác ngày càng mở rộng.
Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai, Viện đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quan trọng: chủ động tìm kiếm và duy trì đối tác chiến lược; lựa chọn nội dung hợp tác sát với nhu cầu thực tiễn và thế mạnh chuyên môn; đồng thời từng bước nâng cao năng lực quản lý, điều phối và tính chủ động trong triển khai các chương trình hợp tác. Đây là nền tảng quan trọng để Viện tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế theo hướng hiệu quả, bền vững và có chiều sâu hơn trong thời gian tới.
Định hướng hợp tác quốc tế trong thời gian tới
Trong giai đoạn tới, trong bối cảnh Việt Nam và khu vực tiến gần mục tiêu loại trừ sốt rét, Viện định hướng tăng cường hợp tác quốc tế như một trụ cột chiến lược, nhằm cập nhật các phương pháp tiếp cận mới, nâng cao năng lực phân tích dịch tễ và chủ động thích ứng với các thách thức đang nổi như biến động dịch tễ, ký sinh trùng kháng thuốc và tác động của biến đổi khí hậu.
Song song với đó, Viện tập trung phát triển trở thành trung tâm nghiên cứu mạnh về bệnh nhiệt đới và ký sinh trùng; đẩy mạnh triển khai các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm ở quy mô quốc tế. Đồng thời, tăng cường ứng dụng các công nghệ hiện đại như sinh học phân tử, giải trình tự gen và trí tuệ nhân tạo trong giám sát dịch bệnh, qua đó nâng cao năng lực phát hiện sớm, phân tích và kiểm soát nguy cơ.
GS.TS. Martin James Donnelly, giáo sư về di truyền tiến hoá của Liverpool School of Tropical Medicine (LSTM)- Anh thảo luận về các phương pháp, kỹ thuật mới, tiến bộ sinh học phân tử và ứng dụng mới trong phòng chống và loại trừ các bệnh vector truyền tại Labo Côn trùng của Viện năm 2025.
Hợp tác quốc tế tiếp tục được mở rộng theo hướng liên ngành, tiếp cận “Một Sức khỏe” (One Health), đồng thời nâng cao vai trò và vị thế của Viện trong các mạng lưới khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) và toàn cầu, đặc biệt trong nỗ lực loại trừ sốt rét bền vững.
Trên cơ sở đó, Viện hướng tới trở thành đầu mối khu vực miền Trung - Tây Nguyên về nghiên cứu và đào tạo quốc tế, đồng thời xây dựng và duy trì mạng lưới đối tác chiến lược dài hạn, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững trong lĩnh vực y tế dự phòng.
Kết luận
Có thể khẳng định rằng, trong 10 năm qua, công tác hợp tác quốc tế không chỉ là hoạt động hỗ trợ mà đã thực sự trở thành động lực chiến lược thúc đẩy sự phát triển toàn diện của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn. Thông qua hợp tác, Viện đã từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ các kỹ thuật hiện đại, mở rộng mạng lưới đối tác và khẳng định vị thế trong hệ thống y tế dự phòng khu vực và quốc tế.
Những kết quả đạt được không chỉ thể hiện ở số lượng hoạt động hợp tác, mà quan trọng hơn là tác động thực chất đến công tác chuyên môn, nghiên cứu khoa học và phòng chống dịch bệnh, góp phần trực tiếp vào mục tiêu kiểm soát và tiến tới loại trừ sốt rét, cũng như giảm gánh nặng bệnh ký sinh trùng tại Việt Nam.
Trên nền tảng đó, cùng với định hướng phát triển rõ ràng và tầm nhìn dài hạn, Viện sẽ tiếp tục phát huy vai trò là đơn vị nòng cốt, chủ động hội nhập sâu rộng, từng bước tham gia và đóng góp tích cực hơn vào các chương trình, sáng kiến y tế toàn cầu. Qua đó, không ngừng nâng cao chất lượng chuyên môn, mở rộng ảnh hưởng khoa học và đóng góp thiết thực, bền vững vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong bối cảnh mới.
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn phối hợp với Văn phòng Đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam tổ chức Hội thảo đánh giá thực hiện hoạt động phòng chống một số bệnh giun, sán truyền từ động vật sang người tại thành phố Quy Nhơn năm 2024. Thành phần tham dự gần 100 đại biểu từ ba viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng (Trung ương, Quy Nhơn và TP. Hồ Chí Minh), WHO, CDC các tỉnh 3 miền, các trường đại học y và bệnh viện.
ĐỊNH HƯỚNG HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
Hợp tác khoa học quốc tế là một trọng tâm hoạt động chuyên môn vô cùng quan trọng nhưng “dễ bị tổn thương” khi các thách thức toàn cầu về bệnh truyền nhiễm ngày càng diễn tiến phức tạp, nền tảng của hợp tác khoa học quốc tế đang ngày càng bị đe dọa. Do đó, việc hợp tác Quốc tế trong Khoa học cần nhấn mạnh sự cần thiết cấp bách, linh động và mêm dẽo, phải biết chọn thời cơ và thời điểm để thực hiện nghiên cứu và phai tranh thủ sự đầu tư kinh phí của các bên để nghiên cứu sao cho đạt cán cân “chi phí-hiệu quả”, phải bảo vệ và tăng cường hợp tác toàn cầu trong khoa học, điều thiết yếu không chỉ để thúc đẩy kiến thức và đổi mới, mà còn để bảo vệ hạnh phúc, sức khỏe của con người và hành tinh này.
Hợp tác Quốc tế trong nghiên cứu Khoa học mang tính Quốc tế cân thể hiện hoạch định chính sách, đảm bảo các nguyên tắc của khoa học và cquy định giữa các bên và của mỗi nước và sự hợp tác khoa học quốc tế được duy trì và lý tưởng nhất là được tăng cường. Trong 50 năm trưởng thành và phát triển, khoa học đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và làm sâu sắc thêm sự hiểu biết rộng hơn về tự nhiên và xã hội, trong đó bao hàm cả lĩnh vực khoa học y sinh. Tất cả các nước đều sử dụng khoa học để thúc đẩy lợi ích của mìnhthông qua sức khỏe, tiến bộ xã hội và phát triển kinh tế. Phần lớn lợi ích quốc gia này đạt được thông qua các khoản đầu tư đáng kể vào nghiên cứu, bao gồm cả từ khu vực tư nhân và các tổ chức từ thiện và thông qua sự hợp tác trong cộng đồng khoa học toàn cầu vì tri thức “vượt qua biên giới mỗi quốc gia”. Cách tiếp cận “tập hợp các bộ óc và nguồn chất xám quan trọng”này càng trở nên quan trọng hơn khi chúng ta đang phải đối mặt với những mối đe dọa hiện hữu của các dịch bệnh từ các tác nhân nhiễm trùng mới và tác nhân cũ nay trỗi dậy do biến đổi gen, do ác tổ hợp hay thay đổi bản chất đối với các vật chủ, nhất là con người, dẫn đến đe dọa sức khỏe.
Khoa học cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các đơn vị đạt được các mục tiêu khoa học, kinh tế. Khoa học đã đóng góp và đồng thời phơi bày những vấn đề về tác động của con người và công nghệ ở mọi cấp độ, từ địa phương đến toàn cầu. Trong vài thập kỷ qua, các nước và các nhà khoa học đã hợp tác để xác định và tìm cách giảm thiểu và thích ứng với những rủi ro này, tuy nhiên, nếu đơn phương một ngành khoa học nào đó thì có lẽ không thể đạt được kết quả tối ưu để đưa ra các kết luận thuyết phục hay vẫn còn khoảng trống nghiên cứu. Nền tảng của mọi ngành khoa học là tập hợp các kinh nghiệm, kiến thức lẫn thực hành có bằng chứng đảm bảo chất lượng, khi đó khoa học trở thành một “hệ thống tri thức chất lượng dựa trên chứng cứ khoa học và phổ cập đến với cộng đồng khoa học” mạnh hơn và có ý nghĩa hơn. Hợp tác khoa học Quốc tế phải được tiếp tục; trách nhiệm duy trì nghiên cứu phải được chia sẻ công bằng hơn, không chỉ để bảo vệ các kết quả khoa học, mà còn bởi vì các quốc gia đầu tư và hỗ trợ khoa học cũng được hưởng lợi từ nhiều lợi ích của nó về tri thức, về giải quyết các vấn đề sức khỏe riêng của từng quốc gia và của toàn cầu.
Hợp tác Quốc tế thông qua Chương trình khoa học quy mô lớn
Chưa bao giờ hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học bị dừng lại, nhất là về “suy nghĩ ý tưởng nghiên cứu” ngay cả khi chưa có nguồn tài trợ. Tinh thần xây dựng ý tưởng và tôn trọng, góp ý cho các ý tưởng để hoàn thiện đề cương là một tập thể các nhà khoa học, nhất là khi phối hợp đa ngành. Dựa trên nền tảng gần 50 năm qua trưởng thành và phát triển, Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn tiếp tục suy nghĩ và hành động, phát triển các sáng kiến thành hoạt động hay dự án nghiên cứu quy mô lớn từ các nhu cầu thực tiễn và bối cảnh dịch bệnh đang lưu hành trong khu vực Viện đang quản lý, kêu gọi các sáng kiến nghiên cứu hợp tác mở nhằm thống nhất, thúc đẩy và chia sẻ những nỗ lực khoa học toàn cầu để “giải mã những bí ẩn của sự sống ở cấp độ thực nghiệm và thực địa, cấp độ gen, cấp độ phân tử và tế bào thông qua các phân tích chuyên sâu quy mô lớn.
Nếu các nhà khoa học của Viện đi lên từ các khoa, phòng, Trung tâm chuyên môn trong Viện năng động, kiên trì và tiếp cận các khoa học mở theo thời gian và không gian mở dưới bầu trời khoa học trong “kỷ nguyên số” sẽ có nhiều cách tiếp cận khoa học để tăng cường hợp tác khoa học Quốc tế và khu vực va kể các với các đối tác tiềm năng trong nước. Các nhà khoa học cần biết cách tích hợp các ngàn khoa học khác nhau để đưa ra các kết quả hay hiểu biết mới về dịch tễ học, lâm sàng, chẩn đoán chính xác và quản lý ca bệnh tối ưu trước những thách thức khoa học và kỹ thuật hiện nay đang tiệm cận. Các nhà khoa học trong Viện nên tận dụng tối đa những tiến bộ mới trong khoa học thông tin có giá trị, phân tích dữ liệu lớn, khai thác dữ liệu y sinh học làm nền tảng cho các nghiên cứu khoa học cho mình, nhất là ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào lĩnh vực khoa học y sinh ký sinh trùng và côn trùng y học.
Từ lâu, khoa học không có biên giới quốc gia, ngay cả từ khi tài liệu khoa học trên giấy và nay đã số hóa, hợp tác khoa học xuyên biên giới có thể đã hiện hữu trong trái tim và khối óc của nhiều nhà khoa học trên toàn cầu khi đến Việt Nam và Viện, qua các bài báo Quốc tế, các hội nghị Quốc tế bàn về lĩnh vực ký inh trùng và côn trùng. do đó, việc thành lập và duy trì các yếu tố bền vững của các chương trình khoa học Quốc tế lớn như Tổ chức Y tế Thế giới, Quỹ Toàn cầu, Đơn vị nghiên cứu Y học Hải quân Mỹ- Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, Viện Nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm và sốt rét Lục quân Úc, các trường Đại học nổi tiếng trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản,.. mang đến cơ hội cho các nhà khoa học làm việc hiệu quả, cùng nhau đạt được những tiến bộ khoa học có lợi cho tất cả các bên.
Hợp tác Quốc tế trong Y sinh học là chìa khóa mở ra các tiến bộ khoa học
Y sinh học là lĩnh vực phức tạp, phát triển mạnh nhờ sự hợp tác trong và ngoài nước để giải quyết những thách thức cấp bách nhất trong y sinh học và thúc đẩy kiến thức khoa học. Hợp tác giữa các viện nghiên cứu và đại học là rất quan trọng để đẩy nhanh tiến bộ khoa học. Bằng cách tập hợp và bổ khuyết chuyên môn, chia sẻ nguồn lực và hợp tác trong các dự án nghiên cứu, các tổ chức chuyên môn có thể tạo ra những “đột phá khoa học”, rút ngắn tiến trình loại trừ một số bệnh sốt rét hay ký sinh trùng khác. Từ các nghiên cứu như vậy sẽ tiếp tục trao đổi kiến thức mới hơn, kích thích và nuôi dưỡng tiếp cận tích hợp đa ngành, đa phương để giải quyết các khía cạnh khoa học phức tạp.
Sự hợp tác giữa giới học thuật (chuyên môn) và ngành công nghiệp (như hợp tác Việt Nam-Hàn Quốc, Việt Nam-Úc và Việt Nam-Anh, Việt Nam-Mỹ) đã từng đóng vai trò thiết yếu trong việc chuyển đổi các phát hiện nghiên cứu thành ứng dụng thực tiễn, thay đổi chính sách thuốc Quốc gia và khu vực, kể cả các công cụ chẩn đoán mới. Song song đó, các hợp tác Quốc tế sẽ thu hẹp khoảng cách giữa khám phá khoa học và tác động thực tế, cho phép phát triển các loại công cụ chẩn đoán, thuốc điều trị, thiết bị y tế và công cụ chẩn đoán hay can thiệp điều trị mới thông qua kết hợp chuyên môn với nguồn lực công nghiệp và kiến thức thị trường, các nhà nghiên cứu có thể đẩy nhanh quá trình thương mại hóa các đổi mới vì lợi ích của bệnh nhân, cộng đồng và xã hội cho một thế giới khỏe mạnh hơn. Thách thức toàn cầu trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe đòi hỏi sự hợp tác quốc tế và chia sẻ kiến thức, nếu việc chia sẻ nguồn lực, chuyên môn và dữ liệu xuyên biên giới giúp các nhà nghiên cứu giải quyết bệnh phức tạp và các vấn đề sức khỏe toàn cầu một cách cầu toàn hơn.
Ngoài ra, qua hợp tác nghiên cứu y sinh học sẽ đầu tư kinh phí, chuyển giao công nghệ và đào tạo, phát triển các nhà nghiên cứu trẻ trong tương lai trong lĩnh vực nghiên cứu y sinh có tầm ảnh hưởng toàn cầu.
Hợp tác Quốc tế nhằm thúc đẩy những tiến bộ trong y học
Những nghiên cứu y sinh học những năm gần đây ngày càng mang tính toàn cầu, nhiều ấn phẩm y sinh khoa học có đồng tác giả quốc tế. Thực tế này phản ánh sự toàn cầu hóa của cuộc sống khoa học và sẽ dễ dàng trong giao tiếp của các chuyên gia y tế và bệnh nhân. Hợp tác Quốc tế đang nổi lên như một chuẩn mực và là hình thức được chấp nhận trong môi trường nghiên cứu hiện nay. Nó được các cơ quan tài trợ khuyến khích mạnh mẽ.
Số lượng và chất lượng trong hợp tác nghiên cứu khoa học Quốc tế đã tăng lên đáng kể trong 25 năm qua về cả lĩnh vực ký sinh trùng và côn trùng qua các kết quả đăng trên tạp chí uy tín Quốc tế. Sự gia tăng này cũng đã chỉ ra dần dần chúng ta đang thu hẹp khoảng cách hợp tác Quốc tế giữa cac nước phát triển, giữa các Viện thuộc khối Y học Dự phòng đang ngày càng phát triển, mở rộng nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực và tập trung vào các vấn đề mới nổi ở lĩnh vực bệnh vector truyền và bệnh ký sinh trùng đang nổi (Emerging and Reemerging Parasitic Diseases), đồng thời cũng nói lên sự tiếp cận sớm các văn bản và thực hiện trong các chính sách đối ngoại khoa học vì chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tuy nhiên, thời gian đến, Viện mong muốn phát triển, tiến xa, tiến vững chắc thì dưới sự chỉ đạo, hỗ trợ nhiêu mặt của Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, các Viện thuộc lĩnh vực Y học dự phòng trong dân sự và quân đội, hợp tác quân dân có nền tảng vững chắc, thì còn cần sự nổ lực của từng cá nhân trong Viện, nhất là đội ngũ trí thức, khoa học hơn nữa để các hợp tác Quốc tế này không còn thiếu tính tích hợp, hợp tác Viện trường đại học là rất cần thiết.
Hợp tác Quốc tế còn giúp thiết lập quan hệ đối tác bình đẳng với các nhà khoa học trên phạm vi toàn cầu, trên tinh thần các bên có lợi và vì sức khỏe nhân dân, vì chức năng nhiệm vụ của Viện và sứ mệnh đã được Bộ Y tế giao phó. Hợp tác ngày càng tăng trong nghiên cứu cũng đã cho thấy một số thuận lợi và không ít những thách thức và đặt ra nhiều câu hỏi, nên chúng ta cần phải suy nghĩ thấu đáo, khắc phục khó khăn và giải quyết các điểm nghẽn khoa học trên các khía cạnh phải luôn luôn tôn trọng pháp luật, văn bản Nhà nước và các quy định trong khoa học công nghệ, đồng thời xem xét cẩn thận các đặc tính riêng biệt của các nước để phát triển góp phần mang lại hiệu quả cao và nghiên cứu hợp tác sẽ thành công. Nhìn chung, hợp tác nghiên cứu Quốc tế là một nhu cầu quan trọng mang lại lợi ích chung cho tất cả các bên trong lĩnh vực y sinh học.
(Hết)PGS.TS.BS. Hồ Văn Hoàng, TS.BS. Huỳnh Hồng Quang,
TS. Hồ Đắc Thoàn, ThS.Huỳnh Thị An Khang