Hình 1. Các quốc gia và vùng lãnh thổ báo cáo ca sốt xuất huyết Dengue |Nguồn: WHO, 2024
Sáng kiến này được điều phối bởi Đơn vị Tăng cường năng lực phòng thí nghiệm Y tế công cộng thuộc Chương trình tình trạng khẩn cấpy tế của TCYTTG và Chương trình Bệnh Nhiệt đới bị lãng quên Toàn cầu với sự hợp tác của Chương trình tiền thẩm định của TCYTTG.
Hội đồng Chuyên gia đánh giá về chẩn đoán (ERPD) cung cấp một cơ chế do các chuyên gia dẫn dắt nhằm đánh giá các rủi ro và lợi ích tiềm ẩn của những thiết bị y tế chẩn đoán trong ống nghiệm (in vitro diagnostic - IVD) hiện chưa nằm trong quy trình tiền thẩm định của TCYTTG hoặc các đánh giá quản lý nghiêm ngặt khác. Với sự cộng tác của một nhóm cố vấn độc lập, gồm các chuyên gia kỹ thuật, ERPD đánh giá liệu các sản phẩm chẩn đoán ứng viên có đáp ứng được các tiêu chí về chất lượng và hiệu suất đã được xác định hay không, đồng thời phân loại rủi ro của chúng để hỗ trợ các quyết định mua sắm dựa trên bằng chứng. Nhận thấy những khoảng trống quan trọng trong khả năng cung ứng các thiết bị chẩn đoán IVD, đặc biệt là đối với các bệnh nhiệt đới bị lãng quên có nguy cơ gây thành dịch -TCYTTGhiện nay đã và đang hỗ trợ việc mua sắm sản phẩm chẩn đoán và vật tư phòng thí nghiệm thiết yếu để quản lý nhiều loại bệnh truyền nhiễm và bệnh không lây nhiễm.
Sau một quy trình xem xét kỹ lưỡng, có 07 sản phẩm chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue đã được đưa vào danh sách. Những khuyến nghị này có giá trị trong vòng một năm và nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho các quyết định mua sắm kịp thời và đầy đủ thông tin trong nỗ lực ứng phó y tế toàn cầu đối với tình trạng khẩn cấp của bệnh sốt xuất huyết.
Nâng cao năng lực chẩn đoán và quản lý ca bệnh sốt xuất huyết Dengue
Việc xác nhận tình trạng nhiễm virus gây sốt xuất huyết Dengue bằng xét nghiệm là vô cùng quan trọng. Mặc dù trên thực tế, chẩn đoán thường chỉ dựa vào các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng, nhưng trong giai đoạn sốt, sốt xuất huyết Dengue không thể phân biệt được về mặt lâm sàng với các bệnh lý do virus, vi khuẩn và ký sinh trùng truyền qua véc-tơ khác, chẳng hạn như sốt rét, sốt Chikungunya và sốt Zika.
Chẩn đoán có thể bao gồm việc phát hiện virus, axit nucleic của virus, kháng nguyên hoặc kháng thể, hoặc kết hợp các phương pháp này. Các xét nghiệm sử dụng kháng nguyên phi cấu trúc (NS1-Non Structure Protein1) có thể giúp chẩn đoán sớm ở những bệnh nhân đang trong giai đoạn sốt. Sau khi khởi phát bệnh, virus có thể được phát hiện trong huyết thanh, huyết tương, tế bào máu ngoại vi và các mô khác trong vòng 4-5 ngày. Trong giai đoạn cấp của bệnh, việc phân lập virus, phát hiện axit nucleic hoặc kháng nguyên có thể được sử dụng để chẩn đoán tình trạng nhiễm trùng.
Hình 2. Triệu chứng sốt xuất huyết Dengue theo từng ngày
|Nguồn: https://hrdiagnostic.in/blog/dengue-fever-symptoms-day-by-day-complete-breakdown-with-timeline
Vào cuối giai đoạn cấp, huyết thanh học là phương pháp được lựa chọn ưu tiên để chẩn đoán. Các xét nghiệm huyết thanh nhằm phát hiện các kháng thể Immunoglobulin M (IgM) hoặc immunoglobulin G (IgG) đặc hiệu với virus sốt xuất huyết Dengue hiện đang được ứng dụng rộng rãi và có thể là một phương pháp thay thế cho phân lập virus hoặc phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR) để hỗ trợ chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue. Các trường hợp nhiễm virus sốt xuất huyết Dengue lần đầu (tiên phát) thường có đáp ứng IgM mạnh và đặc hiệu hơn. Các lần nhiễm sau (thứ phát) thường cho thấy đáp ứng IgM yếu hơn nhưng đáp ứng IgG lại rất mạnh. Những mô hình đáp ứng IgM khác nhau này đối với tình trạng nhiễm trùng, nhấn mạnh nhu cầu cần phải đánh giá độ nhạy và độ đặc hiệu của các xét nghiệm thương mại hiện có, đặc biệt là trong chẩn đoán các trường hợp nhiễm virus sốt xuất huyết Dengue thứ phát
Hiện nay, sốt xuất huyết Dengue là một trong những bệnh truyền nhiễm quan trọng nhất ở người và có thể trở thành dịch bệnh. Các đợt dịch lớn tại các trung tâm đô thị nhiệt đới lớn do cả bốn kiểu huyết thanh gây ra, dẫn đến tỷ lệ mắc và tử vong đáng kể, đặc biệt là ở những nước nghèo nguồn lực, nơi dịch bệnh thường gây áp lực lớn lên hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu và tạo ra tình trạng hỗn loạn khi các bệnh viện và phòng khám bị quá tải bệnh nhân.
Hình 3. Các triệu chứng về bệnh sốt xuất huyết Dengue
|Nguồn: https://pakistantourntravel.com/2019/10/16/dengue-fever-protect-your-family-with-these-simple-precautions/
Tỷ lệ tử vong do sốt xuất huyết Dengue có thể được giảm thiểu xuống mức gần như bằng không thông qua việc triển khai các biện pháp quản lý lâm sàng kịp thời và phù hợp, bao gồm chẩn đoán lâm sàng và xét nghiệm sớm, bù nước đường uống và đường tĩnh mạch, đào tạo nhân viên cũng như tái cơ cấu các dịch vụ y tế. Để đạt được một kết quả điều trị thành công, đòi hỏi việc quản lý ca bệnh sớm và hiệu quả dựa trên đánh giá lâm sàng về tình trạng bù dịch (hydration) và nhận biết các bệnh lý đồng mắc, thực hiện chẩn đoán phân biệt chính xác, được hỗ trợ bởi công tác đánh giá hoặc xác nhận xét nghiệm nhanh chóng và phản ứng kịp thời trước các diễn tiến bệnh nặng. Các dữ liệu về tỷ lệ mắc trên lâm sàng đóng vai trò then chốt trong việc huy động các nguồn lực nhằm kiểm soát dịch bệnh.
Yếu tố then chốt là nhận biết sớm và hiểu rõ các vấn đề lâm sàng trong từng giai đoạn khác nhau, đặc biệt là trong xử trí tình trạng mất nước và thoát huyết tương bằng liệu pháp bù dịch đường uống hoặc bằng đường tĩnh mạch. Đối với các ca tử vong do sốt xuất huyết Dengue, việc tiến hành điều tra (bao gồm cả khám nghiệm tử thi) và kiểm định lâm sàng (clinical audit) là cần thiết để xác định nguyên nhân tử vong chính; kết quả từ các hoạt động này cần được phản hồi lại hệ thống chăm sóc y tế nhằm nâng cao chất lượng điều trị. Để biết thêm thông tin chi tiết, cần tham khảo các hướng dẫn quốc gia về quản lý lâm sàng sốt xuất huyết Dengue.
Thúc đẩy giám sát và kiểm soát véc-tơ truyền bệnh
Mặc dù dữ liệu giám sát côn trùng học và dịch tễ học thường xuyên được thu thập tại nhiều quốc gia, nhưng thực tế cho thấy có rất ít trường hợp các dịch vụ y tế tích hợp và tận dụng tối đa các nguồn thông tin này để kiểm soát ổ dịch cũng như ngăn chặn sự lây lan của bệnh. Lý tưởng nhất, các hoạt động giám sát phải bao gồm việc phát hiện nhanh tình trạng nhiễm bệnh ở người dựa trên chẩn đoán lâm sàng và xét nghiệm phù hợp, kết hợp với giám sát véc-tơ và theo dõi các yếu tố nguy cơ về môi trường và xã hội. Nói chung là hệ thống giám sát phải thường xuyên, liên tục và hiệu quả trong báo cáo và số liệu áp dụng có thể ứng phó tốt nhât có thể, ngăn chặn dịch bùng phát.
Điều này đảm bảo sự gia tăng truyền bệnh và xuất hiện loạt ca bệnh được phát hiện và báo cáo sớm nhất để có thể đáp ứng và phản ứng nhanh chóng và các biện pháp phù hợp.
Hình 4. Số ca sốt xuất huyết Dengue tăng theo từng năm từ 2015-20254
Nguồn: https://universalinstitutions.com/surge-in-dengue-cases/
Các biện pháp kiểm soát véc-tơ hiệu quả đóng vai trò then chốt trong việc đạt được và duy trì mục tiêu giảm tỷ lệ mắc bệnh sốt xuất huyết Dengue. Các can thiệp phòng ngừa và phòng chống véc-tơ nhằm mục đích giảm thiểu sự truyền bệnh, từ đó làm giảm tỷ lệ mắc mới và ngăn ngừa các đợt bùng phát dịch.
Khác với các loài muỗi khác, Aedes aegypti chủ yếu hút máu vào ban ngày. Các giai đoạn cao điểm là vào sáng sớm và trước khi trời tối. Muỗi cái Ae. aegyptithường đốt nhiều người trong mỗi chu kỳ hút máu. Chúng thường giao phối, hút máu, trú ẩn và đẻ trứng bên trong hoặc xung quanh các khu dân cư đô thị. Ae. albopictus là véc-tơ phụtruyền bệnh sốt xuất huyết Dengue tại châu Á, đã phát triển rộng rãi phần lớn nhờ vào hoạt động buôn bán quốc tế lốp xe đã qua sử dụng (một môi trường sinh sản lý tưởng) và các loại hàng hóa khác như cây phát lộc (lucky bamboo). Ae. albopictus có khả năng thích nghi cao, có thể tồn tại ở những vùng khí hậu lạnh hơn nhờ khả năng chịu được nhiệt độ dưới mức đóng băng, trạng thái ngủ đông và khả năng trú ẩn trong các vi môi trường.
Bất kỳ nỗ lực kiểm soát nào muốn thành công đều phải dựa trên khả năng duy trì can thiệp đi kèm với công tác giám sát và đánh giá chặt chẽ. Việc phòng chống véc-tơ sốt xuất huyết Dengue chủ yếu được tiếp cận thông qua giảm thiểu nguồn chứa, loại bỏ các vật chứa tạo môi trường sống thuận lợi cho muỗi đẻ trứng và phát triển các giai đoạn dưới nước; tiếp theo là quản lý vật chứa nước, sử dụng nắp đậy kín cho các vật chứa nước hoặc tiêu diệt các giai đoạn bọ gậy và nhộng bằng hóa chất diệt côn trùng. Thực hiện khảo sát nhộng tại các hộ gia đình giúp xác định loại vật chứa nào có năng suất sinh sản cao nhất. Việc chỉ tập trung xử lý các vật chứa có năng suất cao này có thể mang lại hiệu quả tương đương với việc xử lý tất cả các vật chứa nhưng với hiệu suất cao hơn nhiều.
Hình 5. Triệu chứng và điều trị bệnh sốt xuất huyết Dengue
|Nguồn: https://www.thedosebali.com/dengue-fever-in-bali/
Cần lưu ý không được đánh giá thấp khả năng của véc-tơ trong việc tận dụng các vị trí không truyền thống để trú ẩn hoặc đẻ trứng. Trong vài năm qua, các nhà nghiên cứu đã phát hiện môi trường sinh sản của muỗi ngay trong các bể tự hoại và máng xối trên tầng mái.
CN. Nguyễn Thái Hoàng & TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn