MỘT SỐ NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRA DỊCH TỄ HỌC
Gà
Từ năm 1975-1976, Lee và cộng sự đã tiến hành một cuộc khảo sát bằng bảng câu hỏi để đánh giá thói quen ăn uống của 1048 cư dân (558 nam và 490 nữ) sống tại 05 khu vực thuộc ba thành phố của hai tỉnh ở Hàn Quốc. Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích khả năng di cư của ấu trùng nội tạng do tiêu thụ gan sống của gia cầm và gia súc. Trong số 1048 cư dân, tỷ lệ ăn gan gia cầm sống là 5,9%. Mặc dù không phát hiện ấu trùng giun tròn trong 120 mẫu gan gà, nhưng không nên bỏ qua khả năng nhiễm ký sinh trùng do ăn gan gia cầm sống.
Kết quả điều tra dịch tễ cho thấy 58,5% gà thả rông ở bang Espirito Santo của Brazil bị nhiễm T. canis và 12,7% có thể được coi là bị nhiễm bệnh thực sự. Đồng thời, một cuộc điều tra huyết thanh học đối với gà thịt nuôi thả rông một phần tại 15 trang trại nhỏ ở đông bắc Brazil cho thấy tỷ lệ nhiễm tổng thể cao tới 93,3%. Ngoài ra, 22,9% đất được kiểm tra ở 48 khu vực được chọn cạnh hàng rào trong khu vực nuôi thả rông một phần bị nhiễm trứng T. canis. Điều đáng lo ngại hơn nữa là ở tất cả trang trại nhỏ nơi thu thập huyết thanh gà thả rông, chó và mèo được phát hiện đi lang thang tự do trong cùng khu vực nuôi gà. Tỷ lệ dương tính của kháng thể chống T. canis trong các mẫu gà từ các trang trại nhỏ (78,6%), sân sau (57,0%) và lò mổ (42,8%) khác nhau đáng kể. Ngoài ra, tỷ lệ phát hiện của các phương pháp khác nhau rõ ràng là khác nhau. 89,9% huyết thanh gia cầm phát hiện kháng thể IgY chống lại T. canis ở bốn chợ ở Brazil, nhưng không phát hiện thấy ấu trùng nào trong mô sử dụng phương pháp tiêu hóa pepsin.
Tỷ lệ dương tính huyết thanh cao như vậy có thể liên quan đến khả năng phản ứng chéo với các loại giun khác. Tuy nhiên, điều này vẫn chứng minh ở một mức độ nhất định rằng có sự khác biệt đáng kể về tính đặc hiệu và độ nhạy của các phương pháp phát hiện khác nhau. Ở miền nam Brazil, tỷ lệ dương tính huyết thanh đối với kháng thể chống lại T. canis ở gà thịt được nuôi trong bảy hệ thống bán thâm canh lên tới 67,7% và và tỷ lệ phát hiện động vật dương tính của mỗi trang trại dao động từ 29,6-100%.Ngoài các phương pháp phát hiện huyết thanh học, PCR cũng là một phương pháp thường được dùng, có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn.
Zibaei và cộng sự đã chỉ ra rằng 12,7% gà con Cobb mới nở ở Iran bị nhiễm T. canis thông qua việc khuếch đại các đoạn ITS-1 và ITS-2 bằng PCR. Tại tỉnh Zanjan của Iran, 10,5% gà từ các trang trại truyền thống được phát hiện nhiễm Toxocara spp., trong khi 57,1% có kết quả xét nghiệm dương tính với T. canis. Chó được thả rông trong trang trại ở một số khu vực của Iran, nên tỷ lệ gia cầm bị nhiễm cao được phát hiện trong các trang trại có thể là do việc bảo vệ không đầy đủ và tiêu chuẩn vệ sinh kém trong chuồng, có thể dẫn đến việc ăn phải trứng do chó thải ra.
Lợn
Một bài báo được xuất bản năm 1979 đã ghi lại một cuộc khảo sát huyết thanh học về kháng thể T. canis và kháng nguyên ấu trùng ở lợn tại các trang trại trên khắp Vương quốc Anh. Kết quả cho thấy 4,5% số lợn được xét nghiệm dương tính với kháng thể chống T. canis. Do các phương pháp phát hiện có sẵn vào thời điểm đó còn hạn chế, tỷ lệ phát hiện có thể thấp hơn so với tình hình thực tế.
Cừu
Thông qua việc phát hiện mức độ kháng thể chống T. canis trong 400 mẫu huyết thanh cừu từ Powys và Gwent, Lloyd nhận thấy rằng tỷ lệ dương tính huyết thanh tăng lên theo độ tuổi. Kết quả tương tự cũng thu được từ các mẫu huyết thanh của 365 con cừu thuộc các giống và độ tuổi khác nhau từ một lò mổ và trang trại ở Presidente Prudente, Đông Nam Brazil. Điều này có thể là do tiếp xúc lặp đi lặp lại với sự kích thích liên tục từ trứng hoặc ấu trùng sống theo tuổi, dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ nhiễm. Trong khi đó, tỷ lệ dương tính ở con cái cao hơn so với con đực, điều này có thể là do con cái tiếp xúc trực tiếp với đồng cỏ và thực tế là con đực bị nhốt trong các khu vực nhỏ để tránh tấn công lẫn nhau.
Ngoài ra, Rio Grande do Sul, một bang sản xuất và tiêu thụ cừu lớn ở miền Nam Brazil, có tỷ lệ dương tính chung là 29% trong các mẫu huyết thanh của 1642 con cừu từ 95 trang trại ở 21 đô thị. Thessaly là một trong những vùng sản xuất cừu và dê lớn nhất ở Hy Lạp, nơi 42,9% cừu và 10,1% dê được xét nghiệm dương tính với kháng thể chống T. canis. Sự khác biệt về nguy cơ có thể là do chế độ ăn và sở thích khác nhau. Cừu chủ yếu ăn cỏ, trong khi dê thích gặm lá và ăn cỏ dại, bụi rậm và vỏ cây. Do đó, cừu có xác suất tiếp xúc với đất bị nhiễm trứng nhiễm bệnh cao hơn. Ngoài ra, các nghiên cứu đã chỉ ra nông dân thường xử lý xác động vật và nội tạng không đúng cách, bỏ mặc xác động vật chết và cho chó ăn nội tạng sống. Điều này làm tăng khả năng chó bị nhiễm bệnh lần đầu hoặc tái nhiễm. Mặc dù 29,5% cừu được cung cấp thức ăn bổ sung, nhưng hầu hết chúng vẫn được chăn thả trên đồng cỏ, nên tỷ lệ dương tính huyết thanh cũng tương quan tích cực với sự hiện diện của chó hoang và chó đi lạc. Nhìn chung, chỉ có một vài quốc gia tiến hành điều tra dịch tễvề tỷ lệ nhiễm T. canis ở động vật sản xuất thực phẩm. Mặc dù dữ liệu hiện có còn hạn chế, nhưng tỷ lệ nhiễm bệnh cao cần được quan tâm nhiều hơn.
BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP LIÊN QUAN ĐẾN TIÊU THỤ THỰC PHẨM TỬ CÁC VẬT NUÔI TRÊN
Các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng Toxocara ở người thay đổi tùy thuộc vào vị trí của ký sinh trùng. Tuy nhiên, những triệu chứng này không đặc hiệu cho bệnh ký sinh trùng này và có thể giống với các bệnh khác, khiến việc chẩn đoán bệnh nhân thể phủ tạng trở nên khó khăn. Do đó, có tương đối ít trường hợp nhiễm Toxocaraspp. ở người được ghi nhận. Bài đánh giá này chủ yếu nhấn mạnh các trường hợp do ăn thịt sống hoặc chưa chín kỹ hoặc nội tạng từ vật chủ trung gian.
Gà thịt
Ở một số vùng của Nhật Bản, thịt gà sống và gan gà là những món ăn truyền thống. Do thói quen ăn uống độc đáo của họ, hầu hết trường hợp người bị nhiễm T. canis sau khi ăn thịt gà sống hoặc chưa chín kỹ bị nhiễm bệnh đều xảy ra ở Nhật Bản. Năm 1988, một cặp anh em sinh đôi người Nhật 22 tuổi đã bị nhiễm Toxocara spp. sau khi ăn gan sống thái lát và nội tạng gà sống tại một cửa hàng ăn vặt, nhưng loài Toxocara cụ thể không được xác định. Một trường hợp gia đình mắc bệnh ấu trùng di chuyển nội tạng (VLM) do nhiễm ấu trùng T. canis đã được Morimatsu và cộng sự báo cáo. Bệnh nhân 1 là một người đàn ông Nhật Bản 45 tuổi và Bệnh nhân 2 là một người đàn ông Nhật Bản 71 tuổi, cha của Bệnh nhân 1. Hai bệnh nhân được chẩn đoán mắc VLM bằng cách xét nghiệm dương tính với kháng nguyên bài tiết của T. canis trong huyết thanh và dịch rửa phế nang (BALF). Đồng thời, ấu trùng T. canis được phát hiện trong các sản phẩm thịt gà từ cùng một nguồn mà cả hai bệnh nhân đều tiêu thụ.
Đây cũng là lần đầu tiên kháng thể được báo cáo trong BALF ở bệnh nhân VLM. Ngoài ra, một người đàn ông Nhật Bản 36 tuổi ăn thịt gà sống được chẩn đoán mắc bệnh T. canis phổi và một người đàn ông Nhật Bản 34 tuổi đã ăn Sashimi gà áp chảo nhiều lần cũng được chẩn đoán mắc bệnh này.
Vịt
Hiện tại, chỉ có một trường hợp nhiễm T. canis do ăn gan vịt được báo cáo. Năm 2006, Bệnh viện Đại học Charite ở Berlin, Đức, đã chẩn đoán một phụ nữ 55 tuổi mắc bệnh do nhiễm T. canis, có thể do ăn gan vịt. Bệnh nhân bị liệt nửa người đột ngột ở chân phải và các xét nghiệm huyết thanh cho thấy bạch cầu ái toan tăng 30% và nồng độ IgE toàn phần trong huyết thanh tăng đáng kể. Chụp cộng hưởng từ cho thấy nhiều tổn thương trong não. Huyết thanh và dịch não tủy được xét nghiệm kháng thể kháng T. canis và kết quả cho thấy dương tính cao. Chồng của bệnh nhân chỉ ăn thịt vịt quay và không có triệu chứng lâm sàng, nhưng kháng thể huyết thanh của ông chống lại T. canis cũng dương tính.
Lợn
Nghiên cứu tập trung vào các học sinh của bộ tộc thổ dân Bunong, bộ tộc bản địa lớn thứ tư ở Đài Loan. Những học sinh này sinh sống ở các vùng núi thuộc quận Hei-dong và quận Yan-ping, thuộc huyện Taitung ở phía Đông Đài Loan. Cộng đồng của họ nằm ở độ cao khoảng 300-400 m so với mực nước biển. Kết quả điều tra dịch tễ cho thấy tỷ lệ dương tính huyết thanh tổng thể của dân số bản địa cao hơn đáng kể so với dân số người Hán và tuổi tác, chứ không phải giới tính, dường như có liên quan nhiều hơn đến tỷ lệ dương tính huyết thanh. Quan trọng nhất, đối với người lớn thổ dân có tiền sử ăn gan lợn, chế độ ăn này có thể dẫn đến nhiễm T. canis cao
Thịt bò
Kimmig và cộng sự đã thực hiện các xét nghiệm kháng thể huyết thanh trên những người hiến máu khỏe mạnh ở Stuttgart và phát hiện thấy tỷ lệ nhiễm tăng đáng kể ở những người chăn nuôi gia súc so với các nhóm có nguy cơ thấp. Năm 1983, Vortel và cộng sự lần đầu tiên báo cáo sự hiện diện của ấu trùng T. canis trong sinh thiết gan. Bệnh nhân là một người chăn nuôi gia súc 40 tuổi đến từ Tiệp Khắc, được nhập viện để phẫu thuật cắt bỏ dạ dày sau khi bị chứng khó tiêu, tăng bạch cầu và tăng bạch cầu ái toan trong khoảng bốn năm. Các xét nghiệm mẫu mô gan được lấy trong quá trình phẫu thuật cho thấy nhiễm trùng T. canis, nhưng nguồn lây nhiễm không được truy tìm. Gan bò sống là một trong những món ăn phổ biến nhất ở Hàn Quốc và một số người tin rằng gan sống hoặc thịt sống tốt cho sức khỏe. Vì các thành viên trong cùng một gia đình có thể có cùng thói quen ăn uống, nên các đợt bùng phát bệnh ký sinh trùng do thực phẩm có xu hướng xảy ra trong cùng một gia đình.
Yoshikawa và cộng sự đã báo cáo ba trường hợp người lớn mắc T. canis nội tạng từ cùng một gia đình do tiêu thụ gan bò sống dạng thái lát hàng tuần. Kết quả của một cuộc khảo sát dịch tễ ở Hàn Quốc cho thấy 79,1% trong số 86 người lớn có kết quả xét nghiệm huyết thanh dương tính với T. canis có tiền sử ăn gan bò sống hoặc thịt bò sống gần đây. Tuy nhiên, quần thể nghiên cứu có thể không đại diện cho dân số nói chung vì cuộc khảo sát đã chọn ngẫu nhiên những người tình nguyện trả lời. Dữ liệu vẫn có thể làm sáng tỏ rằng ăn gan bò sống hoặc thịt bò sống vẫn là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây nhiễm trùng.
Vì ấu trùng của T. canis đôi khi xâm nhập vào hệ thần kinh, nên nhiễm trùng có thể gây ra một số triệu chứng thần kinh. Các nghiên cứu dịch tễ học và phân tích tổng hợp đã tiết lộ mối liên hệ đáng kể giữa nhiễm trùng Toxocara spp. và một loạt các tình trạng thần kinh suy nhược, bao gồm suy giảm nhận thức, rối loạn tâm thần và động kinh. Ngoài ra, có bằng chứng mới cho thấy mối liên hệ tiềm tàng giữa nhiễm trùng Toxocara và sự phát triển của các bệnh thoái hóa như bệnh Alzheimer. Một người đàn ông 59 tuổi bị nhiễm T. canis do ăn gan bò sống đã bị viêm tủy sống. Tương tự, một phụ nữ Nhật Bản 21 tuổi có thói quen ăn thịt bò và gan sống đã bị thể VLM và ấu trùng T. canis đã xâm nhập vào hệ TKTU.
Kambe và cộng sự đã báo cáo trường hợp đầu tiên mắc T. canis kèm theo rối loạn phổ viêm tủy thị giác ở một phụ nữ 53 tuổi sau khi ăn gan bò sống trong một tháng. Bệnh do T. canis đôi khi biểu hiện dưới dạng viêm tủy sống hoặc viêm dây thần kinh thị giác và cả hai bệnh này đều là đặc trưng của NMOSD. Do đó, trong các trường hợp NMOSD kết hợp với bệnh do T. canis tác động của nhiễm trùng lên các triệu chứng thần kinh có thể bị bỏ qua.
Cừu
Chỉ có một trường hợp nhiễm Toxocaraspp. được báo cáo ở một người đàn ông 63 tuổi do ăn gan cừu sống. Bệnh nhân bị đau bụng, tiêu chảy, sốt và các triệu chứng khác 2 giờ sau khi ăn gan cừu sống và các triệu chứng ở phổi xuất hiện hai ngày sau đó. Các triệu chứng này kéo dài trong hai tuần. Kết quả xét nghiệm huyết thanh cho thấy sự gia tăng đáng kể số lượng bạch cầu và BCAT và kết quả xét nghiệm ELISA xác nhận rằng ông bị nhiễm T. canis.
Tóm lại, kết quả thí nghiệm nhiễm bệnh, dữ liệu điều tra dịch tễ học và các báo cáo ca bệnh đã xác nhận rằng nhiều loại động vật sản xuất thực phẩm có thể là vật chủ trung gian của T. canis . Do chế độ ăn thực phẩm sống ở một số quốc gia và khu vực, thực phẩm có nguồn gốc từ động vật đã trở thành yếu tố nguy cơ tiềm tàng đối với bệnh này ở người. Tuy nhiên, dữ liệu dịch tễ liên quan vẫn còn tương đối ít, chủ yếu là do thiếu sự chú ý đến việc nhiễm T. canis ở vật chủ trung gian của nó và sự thiếu vắng các phương pháp chẩn đoán nhanh, chính xác, nhạy và dễ thực hiện đối với bệnh. Phương pháp chẩn đoán phổ biến hiện nay là xét nghiệm phân tập trung, tốn thời gian và công sức, đòi hỏi chẩn đoán chuyên nghiệp và cần các xét nghiệm sinh học phân tử để xác định loài. Sự thiếu vắng các phương pháp chẩn đoán nhanh khiến các nhà nghiên cứu gặp khó khăn trong việc tiến hành các cuộc khảo sát dịch tễ toàn diện, cuối cùng cản trở việc thu thập dữ liệu chính xác về tỷ lệ nhiễm. Do đó, việc không có báo cáo về nhiễm ở chim hoặc động vật có vú ở hầu hết quốc gia không nhất thiết chỉ ra sự vắng mặt của bệnh trong khu vực; mà có thể là kết quả của việc điều tra chưa đầy đủ.
Healy và cộng sự nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát và thử nghiệm nghiêm ngặt trong suốt mọi giai đoạn của chuỗi sản xuất, bắt đầu từ trang trại và kết thúc ở người tiêu dùng. Ví dụ, điều cần thiết là duy trì sự sạch sẽ của khu vực chăn nuôi để ngăn ngừa sự xâm nhiễm của trứng gây bệnh. Cần tiến hành xét nghiệm phân thường xuyên trên động vật sản xuất thực phẩm để phát hiện bất kỳ bệnh nhiễm trùng nào. Trong khu vực chăn nuôi, cần cấm chó di chuyển tự do. Hơn nữa, trong quá trình giết mổ, cần phải phát hiện nhiễm ký sinh trùng. Đối với người tiêu dùng, điều quan trọng là phải đảm bảo thịt được nấu chín kỹ và nên tránh tiêu thụ các sản phẩm thịt sống hoặc chưa chín kỹ. Do đó, điều quan trọng hơn là chúng ta không chỉ cần phát triển phương pháp chẩn đoán nhanh bệnh, mà còn cần phát triển các phương pháp chẩn đoán chính xác cho từng bước sản xuất thực phẩm.
Tất nhiên, một phương pháp kinh tế và hiệu quả hơn là phát triển một cách tiếp cận đa diện để giải quyết các bước khác nhau trong sản xuất thực phẩm, từ đó đánh giá dòng chảy của T. canis từ môi trường đến động vật đến thực phẩm có nguồn gốc từ động vật. Tóm lại, việc ưu tiên điều tra nhiễm T. canis ở động vật sản xuất thực phẩm là vô cùng quan trọng, ngay cả ở những vùng chưa ghi nhận trường hợp nào, nhằm đảm bảo phạm vi bao quát toàn diện và đánh giá chính xác tình hình. Hơn nữa, việc phát triển các phương pháp chẩn đoán nhanh là điều thiết yếu, vì chúng có thể tăng cường đáng kể các cuộc điều tra dịch tễ và hỗ trợ quan trọng cho việc phòng ngừa và kiểm soát bệnh do T. canis.
BỆNH DO NHIỄM Toxocara cati
Ngoài ra, Toxocara cati là một loại ký sinh trùng lây truyền từ động vật sang người phổ biến ở mèo. Tương tự như T. canis, giai đoạn ấu trùng gây nhiễm của T. cati có khả năng di chuyển qua các mô của nhiều vật chủ trung gian khác nhau, chẳng hạn như động vật có vú và chim. Do đó, T. cati cũng có thể gây bệnh ở người. Sierra và cộng sự đã tiến hành các nghiên cứu nhiễm trùng thực nghiệm và cung cấp bằng chứng cho thấy lợn có thể đóng vai trò là vật chủ trung gian cho T. cati . Vì vậy, điều quan trọng là không chỉ tập trung vào nhiễm trùng T. canis ở động vật sản xuất thực phẩm mà còn phải xem xét nguy cơ nhiễm trùng T. cati ở những động vật này.
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BIỂU HIỆN BỆNH DO NHIỄM TOXOCARA Ở NGƯỜI: DI TRUYỀN VÀ MÔI TRƯỜNG.
Nhóm tác giả Chia Kwung Fan và cộng sự chỉ ra T. canis được coi là nguyên nhân chính gây bệnh ở người, nhưng đóng góp tương đối của T. cati có lẽ bị đánh giá thấp; các phương pháp huyết thanh học và chẩn đoán khác được sử dụng trong hầu hết nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người này không phân biệt được giữa hai loài này. Vật chủ chính của T. canis là các loài thuộc họ chó (Caniidae). Chó con thường có tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn chó trưởng thành và là nguồn phát tán trứng chính trong môi trường. Con người thường nhiễm T. canis do vô tình nuốt phải trứng đã thụ tinh hoặc ấu trùng có kén từ môi trường hoặc thực phẩm bị ô nhiễm; những nhiễm trùng này có thể dẫn đến bệnh ấu trùng di chuyển nội tạng (VLM), bệnh ấu trùng di chuyển ở mắt (OLM) hoặc bệnh ATDC tiềm ẩn (CT).
Mặc dù quan sát thấy phản ứng miễn dịch hỗn hợp qua trung gian Th1 và Th2, đặc biệt là với nồng độ IgE cao và tăng bạch cầu ái toan (BCAT), nhưng cơ chế cơ bản của sinh bệnh học phân tử và miễn dịch đối với sự phát triển của các hội chứng có triệu chứng VLM, OLM hoặc CT không triệu chứng vẫn chưa rõ ràng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống miễn dịch chống lại nhiều bệnh truyền nhiễm có thể bị ảnh hưởng mạnh bởi sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố môi trường và di truyền của vật chủ, ví dụ như MHC lớp I và II, còn được gọi là kháng nguyên bạch cầu người (HLA).
Hình 4. Tác dụng điều hòa miễn dịch và chống xơ hóa trong nhiễm T. canis trong mô hình chuột mắc bệnh xơ gan mãn tính do thioacetamide gây ra
Nguồn: https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0001706X25003821
Nhiễm Toxocara spp. có liên quan đến phản ứng CD4(+) Th2 phân cực với nồng độ IgE cao và tăng BCAT, chủ yếu được trung gian bởi các phân tử HLA lớp II. Đã có những mối liên hệ giữa HLA lớp II và mức độ nghiêm trọng của bệnh lý cũng như ảnh hưởng di truyền của vật chủ đối với sự phơi nhiễm với nhiễm trùng. Nghiên cứu gần đây cho thấy các tế bào T điều hòa (Treg) biểu hiện Foxp3(+) CD4(+)CD25(+) đóng vai trò trong việc điều hòa bệnh lý miễn dịch của u hạt trong viêm gan u hạt do Toxocaraspp. trên thực nghiệm và trong việc tăng cường biểu hiện TGF-β1, một yếu tố quan trọng cho sự sống sót và chức năng cục bộ của Treg được quan sát thấy trong quá trình xâm lấn của T. canis vào ruột non, gan, cơ và não của chuột.
Vì các locus nhạy cảm tiềm năng của phân tử HLA lớp II được cho là có liên quan đến việc điều hòa miễn dịch trội Th2, được kiểm soát chặt chẽ bởi các tế bào Treg Foxp3(+) CD4(+)CD25(+) thông qua kích thích bằng TGF-β1, do đó tạo ra môi trường thuận lợi cho ấu trùng T. canis nhưng lại gây tổn thương nghiêm trọng cho các cơ quan tại chỗ. Tuy nhiên, biến thể TGF-β1 Leu10Pro được biết là có liên quan đến mức độ nghiêm trọng của bệnh cần được làm rõ thêm vì nó cũng có thể đóng vai trò trong mức độ nghiêm trọng của bệnh ở người. Việc nghiên cứu đa hình TGF-β1, các tế bào Treg Foxp3(+) CD4(+)CD25(+) và đa hình MHC có thể giúp hiểu rõ hơn về sự đóng góp của các yếu tố môi trường và di truyền trong việc ảnh hưởng đến loại hội chứng bệnh và mức độ nghiêm trọng ở người mắc bệnh.
Nhiễm ký sinh trùng T. canis ở người gây ra các tác nhân kích hoạt. Một phản ứng miễn dịch mạnh, kéo dài, đặc trưng bởi cấu hình cytokine T-helper 2 (Th2) chiếm ưu thế (IL-4, IL-5, IL-13) và nồng độ cao kháng thể đặc hiệu với ký sinh trùng (IgG, IgE).Phản ứng này được đặc trưng bởi sự gia tăng đáng kể BCAT, đồng thời ký sinh trùng sử dụng các sản phẩm bài tiết (TESPs) để né tránh hệ miễn dịch và điều chỉnh môi trường vật chủ.
(còn nữa) --> Tiếp theo Phần 3
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang & Ths. Lê Thị Bình Lâm
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn