THỰC TRẠNG VÀ NGUY CƠ VỚI NGƯỜI DO TOXOCARA CANIS Ở ĐỘNG VẬT NUÔI LẤY THỊT
Toxocara canis là một loại ký sinh trùng phổ biến sống trong đường ruột của chó. Nó có thể lây truyền qua đất, nước hoặc rau quả bị nhiễm trứng. Tuy nhiên, một con đường lây truyền khác là qua việc ăn thịt sống hoặc chưa chín kỹ từ vật chủ trung gian bị nhiễm bệnh. Vật chủ trung gian của T. canis bao gồm nhiều loài động vật sản xuất thực phẩm như động vật có vú và chim. Thật không may, bệnh này phần lớn bị công chúng bỏ qua. Do đó, các thông tin cập nhật mong làm sáng tỏ về sự ký sinh, di cư và lây nhiễm của T. canis ở động vật sản xuất thực phẩm, hướng đến việc nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh do T. canis.
Hình 1. Nhiễm ấu trùng Toxocara canis: Con đường từ nông trang đến người tiêu dùng
https://www.cambridge.org/core/journals/parasitology/article/brain-food-rethinking-foodborne-toxocariasis
Bệnh ấu trùng T. canis là một bệnh ký sinh trùng lây truyền từ động vật sang người qua thực phẩm và nhiều loài chim và động vật có vú là vật chủ trung gian của T. canis. Việc tiêu thụ thịt và nội tạng sống hoặc chưa chín kỹ của các vật chủ trung gian này thường dẫn đến nhiễm T. canis và phát triển bệnh ấu trùng ở người. Dựa trên cơ sở dữ liệu của Trung tâm Cơ sở hạ tầng Công nghệ sinh học Quốc gia về ký sinh trùng, di cư và nhiễm trùng T. canis ở gà, bồ câu, chim cút, lợn, bò, cừu và các động vật sản xuất thực phẩm khác, nhằm mục đích nâng cao nhận thức của công chúng về các yếu tố nguy cơ của bệnh do T. canisở người, cải thiện hiểu biết về nhiễm trùng T. canis và cung cấp bằng chứng cho các biện pháp phòng ngừa.
Đây là bệnh giun sán lây truyền từ động vật sang người phổ biến và có tầm quan trọng toàn cầu. Thật không may, nó cũng được xếp vào một trong những bệnh lây truyền từ động vật sang người bị lãng quên nhất. Tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở nhiều nước đang phát triển, đặc biệt là ở các quốc gia và khu vực có chế độ ăn thịt sống hoặc chưa nấu chín. Bệnh này được coi là một bệnh ký sinh trùng lây truyền qua đất, với sự lây truyền qua thực phẩm chủ yếu liên quan đến việc tiêu thụ thịt sống hoặc chưa nấu chín và nội tạng từ vật chủ trung gian, bao gồm cả chim.
Nhiễm T. canis ở người chủ yếu được phân loại thành ba loại phơi nhiễm: Trực tiếp, gần trực tiếp và gián tiếp. Trong trường hợp phơi nhiễm trực tiếp, các cá nhân tiếp xúc trực tiếp với chó bị nhiễm T. canis, có thể dẫn đến nhiễm bệnh. Ngoài ra, trẻ em có thể bị nhiễm bệnh khi chơi ở công viên có đất bị ô nhiễm trứng T. canis. Hơn nữa, ngoài việc tiêu thụ vật chủ trung gian bị nhiễm T. canis, nhiễm trùng cũng có thể xảy ra do tiêu thụ rau và nước bị nhiễm trứng T. canis. Là vật chủ trung gian của T. canis , ký sinh trùng không thể hoàn thành vòng đời của nó trong cơ thể người, nhưng ấu trùng gây nhiễm của nó có thể di chuyển đến các mô khác nhau thông qua hệ tuần hoàn. Mặc dù bệnh do T. canisở người thường không triệu chứng, nhưng phản ứng viêm do ấu trùng gây ra có thể dẫn đến nhiễm trùng nặng với các biến chứng ở gan, phổi, mắt và hệ thần kinh.Theo dữ liệu dịch tễ học hiện có, có thể có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ mắc bệnh trong huyết thanh giữa các quần thể khác nhau. Ví dụ, trẻ mẫu giáo và những người sống ở vùng nông thôn hoặc làm các công việc liên quan đến đất đai có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Tỷ lệ kháng thể chống lại T. canis trong các mẫu bệnh nhân ngẫu nhiên được nhập viện tại một bệnh viện nhi ở Brazil dao động từ 31-39% và tỷ lệ nhiễm bệnh ở người dao động từ 11-52%.

Hình 2. Chu kỳ sinh học phát triển và từ các vật chủ khác nhau
Nguồn: https://www.mdpi.com/1660-4601/20/21/6972
Ngoài ra, kết quả khảo sát cho thấy những người sống ở vùng nông thôn có nhận thức rất thấp về nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người do thịt sống gây ra. Bản tóm tắt toàn diện do Healy và cộng sự cung cấp cho thấy lợn, cừu và gà có nguy cơ lây truyền bệnh T. canis đáng kể. Hiện nay, các trường hợp nhiễm ký sinh trùng T. canis ở người đã được báo cáo do ăn gan gà sống, gan vịt, gan cừu và gan bò. Tuy nhiên, chẩn đoán lâm sàng và xét nghiệm bệnh do T. canistương đối phức tạp, khiến việc xác định mức độ nhiễm bệnh trong cộng đồng trở nên khó khăn. Mặt khác, dù bệnh do T. canisở người có liên quan đến việc tiêu thụ thực phẩm có nguồn gốc từ động vật, nhưng việc điều tra dịch tễ về các động vật mang mầm bệnh T. canis lây truyền qua thực phẩm này lại hiếm khi được báo cáo. Do đó, mở rộng nghiên cứu sang nhiều loại động vật sản xuất thực phẩm hơn và tập trung vào sự lây nhiễm, di chuyển và truyền bệnh của T. canis trong các động vật này. Bằng cách phân tích kết quả nhiễm trùng thực nghiệm T. canis , dữ liệu điều tra dịch tễ và các trường hợp nhiễm T. canis ở người do ăn thịt sống hoặc chưa chín kỹ từ động vật sản xuất thực phẩm, sẽ giúp xác định các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn góp phần gây ra bệnh ở người. Từ đó, thiết lập các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát bệnh do T. canis, nâng cao nhận thức cộng đồng về những rủi ro tiềm ẩn liên quan đến nhiễm T. canis.
TỪ NHIỄM TRÙNG THỰC NGHIỆM
Gà thịt:
Theo truyền thống, gà thịt được nuôi trong hệ thống bán thâm canh hoặc thả rông tại các trang trại gà ở làng quê và gà dễ bị nhiễm ký sinh trùng trong đất hơn do khả năng đi lại tự do trong trang trại trong các hệ thống này. Ngoài ra, gà cũng được coi là chỉ thị của ký sinh trùng trong đất, đặc biệt là Toxocara spp.Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những con gà bị nhiễm T. canisnày có thể thải trứng T. canis ra môi trường từ 2 đến 6 giờ sau khi nhiễm bệnh và trứng trong phân vẫn còn khả năng lây nhiễm, điều này cho thấy khả năng lây nhiễm chéo giữa các con gà. Điều này cũng làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh cho người chăn nuôi ở một mức độ nào đó.
Năm 1987, Inoue và cộng sự đã tiêm thử nghiệm trứng T. canis vào mề gà và quan sát thấy ấu trùng trong gan. Ngoài ra, họ còn cho chuột ăn gan gà nhiễm T. canis, dẫn đến việc chuột bị nhiễm bệnh thành công. Đây là nghiên cứu đầu tiên điều tra khả năng gà là vật chủ trung gian cho T. canis. Tương tự, Dutra và cộng sự đã lây nhiễm thành công cho chuột bằng cách cho chúng ăn gan gà nhiễm ấu trùng T. canis (n=50), chứng minh thêm rằng ấu trùng T. canis trong gan gà vẫn có khả năng lây nhiễm cho các vật chủ trung gian hoặc vật chủ cuối cùng khác. Một lượng lớn nghiên cứu đã xác nhận rằng gan là vị trí ưa thích của ấu trùng T. canis.
Maruyama và cộng sự đã gây nhiễm cho giống gà White Leghorn với 1500 trứng và tìm thấy ấu trùng (40-192) trong mô gan ở các thời điểm 1, 3, 6, 10, 30 và 50 ngày sau khi nhiễm bệnh (dpi), với số lượng ấu trùng thu thập được cao nhất ở 1 dpi. Điều này cho thấy ấu trùng có thể ký sinh trong gan trong một thời gian dài. Ngoài ra, ấu trùng đôi khi có thể đến các vị trí khác để ký sinh, ví dụ như mô cơ, tim, lá lách và não. Gargili và cộng sự đã phân tích thêm sự di chuyển của T. canis ở gà con bằng cách gây nhiễm nhân tạo cho gà con 15 ngày tuổi với 5000 trứng. Ấu trùng chủ yếu ký sinh ở gan (92,87-99,83%), tiếp theo là phổi và đôi khi di chuyển đến não từ 2 dpi đến 12 dpi. Nhưng họ không phát hiện ấu trùng trong mô cơ của gà con.
Trái ngược với những phát hiện của các thí nghiệm trước đó, Taira và cộng sự đã xác nhận rằng ấu trùng của T. canis có thể thực hiện di chuyển gan phổi ở gà. Tuy nhiên, cơ chế di chuyển cụ thể vẫn chưa được biết. Tóm lại, gà ở các độ tuổi và giống khác nhau đều dễ bị nhiễm T. canis, và ấu trùng có thể di chuyển đến các mô và cơ quan khác nhau, nhưng gan và phổi là những vị trí ký sinh ưa thích của chúng.
Chim bồ câu
Chim bồ câu là loài chim có giá trị dinh dưỡng cao. Theo dữ liệu nghiên cứu thị trường, Trung Quốc tiêu thụ thịt bồ câu hàng năm hơn 5 tỷ con. Gan, tim và các bộ phận khác của chim bồ câu rất giàu protein và vitamin A. Mặc dù không có bằng chứng khoa học nào chứng minh rằng ăn tim bồ câu sống có thể điều trị bệnh động kinh, nhưng một số người vẫn tin theo truyền thống này và đưa nội tạng bồ câu sống vào chế độ ăn uống của họ. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chim bồ câu cũng có thể là vật chủ trung gian cho T. canis. Ngay từ năm 1964, Galvin và cộng sự đã mô tả sự ký sinh của ấu trùng T. canis ở chim bồ câu. Kết quả cho thấy ấu trùng ký sinh chủ yếu ở gan chim bồ câu, tiếp theo là phổi. Các cơ quan khác, chẳng hạn như não và cơ bắp, có ít hoặc không có ấu trùng. Ngoài ra, Rahbar và cộng sự thấy rằng tỷ lệ phát hiện ấu trùng trung bình trong mô của chim bồ câu ở 1 dpi thấp hơn đáng kể so với ở 2, 3, 4 và 30 dpi và tỷ lệ phát hiện ấu trùng cao nhất (55%) là ở 3 dpi. Tóm lại, gan vẫn là vị trí ưa thích của T. canis ở chim bồ câu, và ấu trùng bị nhiễm bệnh xuyên qua thành ruột và di chuyển đến các mô khác nhau sau 24 hpi. Sau 3 dpi, ấu trùng ký sinh trong mô bắt đầu chết.
Chim cút
Chim cút là một loài chim nhỏ, được mọi người yêu thích vì thịt mềm và giá trị dinh dưỡng cao. Việc tiêu thụ trứng chim cút sống được biết là có khả năng làm giảm các dị ứng da, các mảng Rubella và nôn mửa có thể do ăn cá và tôm gây ra. Nó cũng có thể giúp giảm bớt các dị ứng do tiêm thuốc cụ thể. Thỉnh thoảng, người ta cũng ăn nội tạng của nó sống. Là một loài chim, chim cút cũng có thể là vật chủ trung gian cho T. canis. Pahari và Sasmal đã tiến hành một nghiên cứu về sự di cư và phân bố của ấu trùng T. canis ở chim cút Nhật Bản. Một số lượng lớn ấu trùng (92-95%) được thu thập từ gan của chim cút Nhật Bản ở các ngày thứ 4, 10 và 20 sau khi nhiễm bệnh và chỉ một số ít ấu trùng di cư đến các mô khác như phổi, tim, cơ và não. Đồng thời, 50 ấu trùng được thu thập từ gan của chim cút Nhật Bản đã được cho chuột uống và những con chuột này đã bị nhiễm bệnh thành công. Sau đó, họ cũng xác nhận khả năng lây nhiễm của ấu trùng T. canis trong giun đất.
Điều này cho thấy chim có thể gây nhiễm trùng không chỉ bằng cách ăn trứng trong đất mà còn bằng cách ăn giun đất có chứa ấu trùng bị nhiễm bệnh. Nakamura và cộng sự đã phân tích thêm tác động của các liều nhiễm trùng khác nhau lên chim cút Nhật Bản. Ấu trùng có thể được phát hiện trong gan của chim cút Nhật Bản bị nhiễm 1500 trứng sau 12 giờ sau khi nhiễm trùng và vẫn có thể được phát hiện trong gan sau 200 ngày sau khi nhiễm trùng. Ấu trùng được phát hiện trong gan trong vòng 6 giờ sau khi nhiễm trùng đường miệng với 4000 hoặc 15.000 trứng. Điều này cho thấy rằng với sự gia tăng cường độ nhiễm trùng, thời gian di chuyển của ấu trùng từ ruột đến mô sẽ bị rút ngắn đáng kể.
Lợn/ Heo
Lợn là một phần không thể thiếu của nền kinh tế toàn cầu, sản xuất lương thực và là nguồn cung cấp thực phẩm thiết yếu. Các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy tổn thương thành ruột ở lợn bị nhiễm trứng T. canis và thu thập một số lượng lớn ấu trùng từ các hạch bạch huyết xung quanh ruột non, hạch bạch huyết xung quanh ruột già, phổi và gan. Phù hợp với kết quả thí nghiệm của Sommerfelt và cộng sự, họ nhận thấy rằng sự di chuyển của ấu trùng bắt đầu tại các hạch bạch huyết của ruột non, dường như là rào cản đầu tiên để ấu trùng xâm nhập và ấu trùng được chuyển từ tuần đầu tiên đến tuần thứ 4 sau nhiễm. Ngoài ra, gan là cơ quan có số lượng ấu trùng cao nhất được tìm thấy trong tuần đầu tiên, nhưng số lượng ký sinh trùng giảm dần. Ấu trùng trong phổi xuất hiện từ 1 wpi đến 3 wpi, đạt đỉnh điểm vào 2 wpi (tuần sau nhiễm). Kết quả này phù hợp với kết quả của Done và Helwigh.
Thông qua các thí nghiệm nhiễm bệnh ban đầu và thử thách, Taira va công sự đã xác nhận rằng ấu trùng T. canis chủ yếu ký sinh ở phổi lợn và lượng ấu trùng trong phổi đạt đỉnh điểm vào ngày thứ 14 sau khi nhiễm. Dù mật độ ấu trùng giảm đáng kể theo thời gian, nhưng vẫn có thể phát hiện ấu trùng trong phổi cho đến ngày thứ 49 sau khi nhiễm. Kết quả quan trọng nhất là một số lượng nhỏ ấu trùng được tìm thấy trong cơ, não và thậm chí cả trong mắt. Ấu trùng có ái lực đặc biệt với gan, và gan có chứa ấu trùng vẫn có khả năng lây nhiễm cho chuột. Những kết quả này cho thấy ấu trùng T. canis có thể di chuyển và tồn tại trong mô lợn trong hơn một tháng, nhưng việc ký sinh ấu trùng ở các vị trí ưa thích cụ thể không cải thiện thời gian sống sót và hầu hết ấu trùng dường như bị vật chủ loại bỏ ở giai đoạn nhiễm sớm, dù một số ít ấu trùng dường như di chuyển ngẫu nhiên đến các mô khác, chẳng hạn như cơ hoặc não. Do đó, lợn có thể ít gây hại hơn với tư cách là vật chủ trung gian cho T. canis so với chuột hoặc gia cầm, trong đó ấu trùng có thể tồn tại trong hơn một năm.
Cừu
Cừu có tác động đáng kể đến nguồn cung cấp thực phẩm, phát triển kinh tế, văn hóa và môi trường. Thịt cừu non là loại thịt được ưa chuộng và được tiêu thụ rộng rãi ở nhiều vùng khác nhau. Ngoài ra, việc chăn thả cừu giúp kiểm soát sự phát triển của cỏ dại và hạn chế sự lây lan các loài xâm lấn trong đồng cỏ và các hệ sinh thái khác. Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng đường di cư của ấu trùng T. canis ở cừu khá giống với đường di cư ở các vật chủ trung gian khác. Gan và phổi của cừu là những cơ quan bị ảnh hưởng nhiều nhất, và hồi tràng là nơi ấu trùng di cư xâm nhập vào thành ruột. Thêm vào đó, mặc dù ấu trùng di cư khỏi mô ruột trong vòng 24 giờ sau khi nhiễm bệnh, kháng nguyên của ký sinh trùng này có thể tồn tại trong một thời gian dài. Hơn nữa, ngay cả sau bảy tháng nhiễm bệnh sau thí nghiệm, ấu trùng vẫn được phát hiện còn sống trong một số mô bị ảnh hưởng, chẳng hạn như gan và phổi.
(còn nữa) --> Tiếp theo Phần 2
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang & Ths. Lê Thị Bình Lâm
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn