Các công cụ mới đã cứu sống một triệu người khỏi bệnh sốt rét năm ngoái, nhưng tiến bộ này đang bị đe dọa do tình trạng kháng thuốc ngày càng gia tăng 2026
Ngày 04.12.2025, theo Thông cáo báo chí từ TCYTTG cho biết việc sử dụng rộng rãi hơn các công cụ mới chống lại bệnh sốt rét, bao gồm màn chống muỗi hai lớp và vaccine được TCYTTG khuyến nghị, đã giúp ngăn ngừa ước tính 170 triệu ca mắc bệnh và 1 triệu ca tử vong vào năm 2024, theo báo cáo sốt rét thế giới thường niên. Các công cụ được TCYTTG khuyến nghị đang ngày càng được tích hợp vào hệ thống y tế rộng lớn hơn. Kể từ khi TCYTTG phê duyệt vaccine phòng sốt rét đầu tiên trên thế giới vào năm 2021, có 24 quốc gia đã đưa vaccine này vào chương trình tiêm chủng thường quy của họ. Phòng ngừa sốt rét theo mùa bằng thuốc cũng đã được mở rộng và hiện đang được triển khai tại 20 quốc gia, dự kiến sẽ tiếp cận 54 triệu trẻ em vào năm 2024, tăng từ khoảng 0,2 triệu trẻ em vào năm 2012.
Những tiến bộ cũng đang được thực hiện trong việc loại trừ bệnh sốt rét (LTSR). Đến nay, tổng cộng 47 quốc gia và 1 vùng lãnh thổ đã được TCYTTG chứng nhận không còn bệnh sốt rét - Cabo Verde và Ai Cập được chứng nhận không còn bệnh sốt rét vào năm 2024 và Georgia, Suriname và Timor-Leste đã gia nhập danh sách này vào năm 2025. Mặc dù đạt được những tiến bộ đáng kể này, ước tính vẫn có 282 triệu ca mắc sốt rét và 610.000 ca tử vong vào năm 2024- nhiều hơn khoảng 9 triệu ca so với năm trước.Ước tính 95% số ca tử vong này xảy ra ở khu vực Châu Phi, phần lớn là ở trẻ em dưới 5 tuổi. Báo cáo cho thấy tình trạng kháng thuốc sốt rét đang gia tăng và cản trở việc đạt được mục tiêu LTSR.
"Những công cụ mới để phòng ngừa bệnh sốt rét đang mang lại cho chúng ta niềm hy vọng mới, nhưng chúng ta vẫn phải đối mặt với những thách thức đáng kể," Tiến sĩ Tedros Adhanom Ghebreyesus, Tổng Giám đốc TCYTTG cho biết. "Số ca mắc và tử vong ngày càng tăng, mối đe dọa ngày càng lớn từ tình trạng kháng thuốc và tác động của việc cắt giảm kinh phí đều đe dọa làm đảo ngược những tiến bộ mà chúng ta đã đạt được trong hai thập kỷ qua. Tuy nhiên, không có thách thức nào là không thể vượt qua. Với sự lãnh đạo của các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất và đầu tư có mục tiêu, viễn cảnh về một thế giới không còn bệnh sốt rét vẫn có thể đạt được. Báo cáo về bệnh sốt rét thế giới nêu bật bằng chứng về tình trạng kháng thuốc một phần đối với các dẫn xuất artemisinin, loại thuốc đã trở thành trụ cột trong điều trị sốt rét sau khi chloroquine và sulfadoxine-pyrimethamine thất bại. Tình trạng kháng thuốc chống sốt rét hiện đã được xác nhận hoặc nghi ngờ ở ít nhất 8 quốc gia ở Châu Phi và có những dấu hiệu tiềm tàng cho thấy hiệu quả của các loại thuốc kết hợp với artemisinin đang giảm sút.
Tiến độ giảm số ca tử vong do sốt rét, mục tiêu trọng điểm của Chiến lược kỹ thuật toàn cầu về sốt rét giai đoạn 2016-2030, vẫn còn rất xa so với kế hoạch. Năm 2024, có 610.000 ca tử vong. Con số này tương ứng với 13,8 ca tử vong do sốt rét trên 100.000 dân, cao hơn gấp 3 lần mục tiêu toàn cầu là 4,5 ca tử vong trên 100.000 dân.
Những thách thức phức tạp đối với sự tiến bộ
Báo cáo năm nay nhấn mạnh một loạt các rủi ro ngày càng gia tăng đối với nỗ lực xóa bỏ bệnh sốt rét, bên cạnh mối đe dọa từ tình trạng kháng thuốc chống sốt rét.KSTSR mang đột biến gen Pfhrp2 vẫn còn phổ biến, làm giảm độ tin cậy của các xét nghiệm chẩn đoán nhanh, trong khi tình trạng kháng hóa chất pyrethroid đã được xác nhận ở 48 quốc gia đang làm giảm hiệu quả của màn chống muỗi tẩm thuốc diệt muỗi. Đồng thời, muỗi Anopheles stephensi kháng nhiều loại hóa chất diệt côn trùng thông dụng, hiện đã xâm nhập 9 nước Châu Phi, đặt ra thách thức nghiêm trọng đối với các nỗ lực kiểm soát bệnh sốt rét ở đô thị.
Bên cạnh các mối đe dọa sinh học, các hiện tượng thời tiết cực đoan cũng đang góp phần làm gia tăng các đợt bùng phát bệnh sốt rét. Sự thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa đang làm thay đổi môi trường sống của muỗi và do đó làm thay đổi mô hình lây truyền bệnh.Xung đột và bất ổn ở các khu vực bị ảnh hưởng cũng dẫn đến sự gián đoạn trên diện rộng các dịch vụ y tế, hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc và làm chậm trễ việc chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Thách thức này càng trở nên trầm trọng hơn do sự chững lại nguồn tài trợ toàn cầu trong thập kỷ qua, hạn chế phạm vi tiếp cận của các biện pháp can thiệp cứu sống. Năm 2024, 3,9 tỷ đô la Mỹ đã được đầu tư vào công tác PCSR, nhưng con số này vẫn chưa đạt được một nửa mục tiêu tài trợ năm 2025 là 9,3 tỷ đô la Mỹ do Chiến lược kỹ thuật toàn cầu đề ra.Việc cắt giảm viện trợ phát triển chính thức (ODA) gần đây đã gây ra sự gián đoạn nghiêm trọng đối với hệ thống y tế, làm suy yếu công tác giám sát thường xuyên và buộc phải hủy bỏ hoặc hoãn lại hầu hết các cuộc khảo sát PCSR theo kế hoạch. Những cắt giảm này cũng làm gia tăng nguy cơ thiếu hụt vật tư và chậm trễ trong các chiến dịch can thiệp PCSR, làm suy yếu hiệu quả của chương trình.
Phản ứng do quốc gia dẫn đầu, được hỗ trợ bởi các đối tác
Báo cáo Sốt rét Thế giới đã nêu rõ tình trạng kháng thuốc đang ngày càng gia tăng. Phản ứng của chúng ta cũng phải rõ ràng không kém, đó là các loại thuốc mới với cơ chế tác dụng mới” Tiến sĩ Martin Fitchet, Giám đốc điều hành của Medicines for Malaria Venture, cho biết. Việc phát triển liệu pháp kết hợp không chứa artemisinin đầu tiên, Ganaplacide-Lumefantrine là bằng chứng cho thấy điều này là khả thi và nó đánh dấu sự khởi đầu của một chương mới trong việc chống lại bệnh sốt rét. Cùng với sự hợp tác toàn cầu về chuyên môn, cam kết và nguồn tài trợ, chúng ta có thể đi trước tình trạng kháng thuốc và cung cấp các loại thuốc mới để đảm bảo bệnh sốt rét không còn là mối đe dọa nữa.”
Các cam kết chính trị cần được chuyển hóa thành nguồn lực và hành động có tác động bền vững và công bằng. TCYTTG kêu gọi các quốc gia có dịch sốt rét duy trì các cam kết chính trị của mình nhằm chấm dứt tử vong do sốt rét như đã nêu trong Tuyên bố Yaoundé. Sự đoàn kết và hành động trong khuôn khổ sáng kiến "Đẩy mạnh quy mô lớn" sẽ giúp cộng đồng PCSR toàn cầu giảm thiểu các mối đe dọa hiện tại và tương lai để hướng tới một tương lai không còn sốt rét.
Lập bản đồ nguy cơ mắc bệnh sốt rét để định hướng hành động toàn cầu 2026
Ngày 08.4.2026, TCYTTG cho biết kể từ khi ra mắt vào năm 2005, Nhóm Sức khỏe và Phát triển Không gian Địa lý thuộc Viện Nghiên cứu Trẻ em Úc, thông qua Dự án Bản đồ Sốt rét, đã đóng góp kiến trúc dữ liệu và phân tích mạnh mẽ được xây dựng trong hơn hai thập kỷ, tích hợp nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, áp dụng mô hình thống kê và không gian địa lý tiên tiến và duy trì kho dữ liệu sốt rét toàn cầu toàn diện. Nhờ vai trò là Trung tâm Hợp tác của TCYTTG trong Mô hình hóa Bệnh tật Không gian Địa lý từ năm 2022, TCYTTG đã được hưởng lợi từ năng lực kỹ thuật mạnh mẽ của họ trong mô hình dịch tễ học, phân tích độ bất định và quy trình làm việc có thể tái tạo, mang lại chuyên môn phân tích tiên tiến cho sự hợp tác.
TCYTTG đóng vai trò lãnh đạo về mặt chuẩn mực, điều phối toàn cầu và năng lực chuyển đổi chính sách, đảm bảo rằng công tác phân tích phù hợp với nhu cầu của các quốc gia thành viên và được đưa trực tiếp vào các chiến lược, hướng dẫn và báo cáo toàn cầu. Vai trò của TCYTTG bao gồm thiết lập khuôn khổ chính sách, duy trì sự giám sát về phương pháp luận, tạo điều kiện tiếp cận dữ liệu chính thức của các quốc gia, triệu tập các quốc gia thành viên và các nhóm chuyên gia và tạo ra nền tảng để thông qua đó các kết quả phân tích có thể cung cấp thông tin cho các khuyến nghị toàn cầu.Nhờ sự kết hợp của những thế mạnh này, công trình nghiên cứu chung có tính khoa học vững chắc, phù hợp với chính sách và hữu ích về mặt vận hành cho ra quyết định.
Trung tâm đã hỗ trợ công việc của TCYTTG trong hơn một thập kỷ, đóng góp các dữ liệu phân tích cốt lõi cho Báo cáo Sốt rét Thế giới hàng năm. Sự hợp tác này bao gồm việc lập báo cáo hàng năm về ước tính gánh nặng bệnh sốt rét ở các quốc gia có gánh nặng bệnh tật cao ở vùng cận Sahara, Châu Phi và ước tính về phạm vi bao phủ của các biện pháp can thiệp, chẳng hạn như màn ngủ tẩm thuốc diệt côn trùng và các công cụ kiểm soát sốt rét quan trọng khác.Trung tâm cũng đã hỗ trợ trực tiếp cho các chương trình PCSR Quốc gia, đặc biệt là thông qua phân tích không gian địa lý để phân tầng rủi ro theo sáng kiến "Gánh nặng cao, tác động cao".Nhờ những đóng góp này, TCYTTG có thể theo dõi tiến độ đạt được các mục tiêu giảm thiểu bệnh sốt rét toàn cầu và điều chỉnh hoạt động giám sát phù hợp với các Mục tiêu Phát triển Bền vững và Chiến lược Kỹ thuật Toàn cầu về Sốt rét, đảm bảo rằng báo cáo và hướng dẫn toàn cầu dựa trên bằng chứng vững chắc và có liên quan đến chính sách.
Sự hợp tác này đã tăng cường khả năng của TCYTTG trong việc hoàn thiện các phương pháp ước tính gánh nặng bệnh sốt rét, cuối cùng mang lại lợi ích cho các quốc gia thành viên bằng cách mở rộng khả năng tiếp cận mô hình không gian địa lý tiên tiến, giúp xác định chính xác những nơi cần can thiệp nhất và hỗ trợ lập kế hoạch chiến lược ở cả cấp quốc gia và toàn cầu.
Đối với trung tâm, mối quan hệ đối tác này đóng vai trò trung tâm trong công việc của họ trong thập kỷ qua, giúp tiếp cận với chuyên môn hàng đầu thế giới về chính sách PCSR, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác với các chương trình PCSR quốc gia và tạo ra một con đường trực tiếp để dữ liệu và năng lực phân tích của họ tạo ra tác động trên phạm vi quốc tế.Nỗ lực chung này cũng mang lại những lợi ích rõ ràng cho cộng đồng PCSR nói chung, bằng cách tạo ra một bức tranh chi tiết, đầy đủ về mặt không gian về gánh nặng sốt rét toàn cầu và sự tiến triển của nó theo thời gian, trung tâm hợp tác đã cung cấp bằng chứng thiết yếu để định hình chính sách PCSRquốc tế, hướng dẫn phân bổ nguồn lực cho các nhóm dân cư có nhu cầu cao nhất và đánh giá tiến độ đạt được các mục tiêu toàn cầu, bao gồm cả việc xác định những nỗ lực đang đi đúng hướng và những lĩnh vực cần tập trung hơn nữa.
Sự hợp tác này cũng giúp xây dựng năng lực, kỹ năng và phương thức làm việc mới cho cả hai bên. Đối với TCYTTG, công việc chung với trung tâm đã củng cố các phương pháp phân tích và nâng cao kỹ năng kỹ thuật của nhân viên, bao gồm việc hoàn thiện các phương pháp mô hình hóa đã được Nhóm Tư vấn Kỹ thuật Thông tin Chiến lược về Sốt rét xem xét và cải thiện cách thức tích hợp dữ liệu chẩn đoán, hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế, các biện pháp can thiệp mới và các loại màn chống muỗi đang phát triển vào việc ước tính gánh nặng bệnh tật.
Đối với trung tâm, một thập kỷ hợp tác chặt chẽ với TCYTTG đã giúp các thành viên nhóm hiểu sâu hơn về thực tiễn hoạt động kiểm soát bệnh sốt rét và định hình cách tiếp cận riêng của họ đối với quan hệ đối tác và hoạt động thực địa.Vẫn còn nhiều cơ hội để mở rộng hợp tác, bao gồm các hoạt động xây dựng năng lực bổ sung nhằm cho phép các quốc gia thành viên thực hiện mô hình hóa không gian địa lý tiêu chuẩn hóa và tự đưa ra ước tính về gánh nặng bệnh tật.
Bệnh sốt rét vẫn là một cuộc khủng hoảng y tế nghiêm trọng, với những tiến bộ bị cản trở bởi tình trạng thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng yếu kém, chi phí hậu cần cao và những thách thức về an ninh, đặc biệt là ở một số nhóm quốc gia cụ thể. Các chiến lược chính gồm:Tăng cường năng lực địa phương, đảm bảo tiếp cận phổ cập với chẩn đoán và điều trị, và cải thiện công tác giám sát để khắc phục những nút thắt cổ chai này. Những thách thức chính trong công tác kiểm soát bệnh sốt rét bao gồm:
- Những thiếu hụt về năng lực: Thiếu nhân lực được đào tạo và cơ sở hạ tầng hạn chế việc thực hiện công tác kiểm soát bệnh sốt rét, đặc biệt là ở các cấp thấp hơn.
- Thất bại về mặt hậu cần: Chi phí vận hành cao khiến việc quản lý chuỗi cung ứng cho các xét nghiệm và điều trị trở nên khó khăn.
- Vấn đề an ninh: Tình trạng bất ổn ở một số quốc gia cản trở các nỗ lực can thiệp.
- Tính bền vững và khả năng tiếp cận: Đảm bảo khả năng tiếp cận nhất quán với các xét nghiệm chẩn đoán, điều trị (như ACT) và giám sát là rất quan trọng để ngăn ngừa sự tái bùng phát lây truyền.
Các hành động ưu tiên tập trung vào việc tăng cường năng lực của các chương trình kiểm soát sốt rét, cải thiện quản lý hậu cần và nâng cao các biện pháp can thiệp ở cấp cộng đồng. Việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa trong khuôn khổ quản lý vector truyền bệnh tổng hợp cần được thực hiện. Nhận thấy năng lực yếu kém của hệ thống y tế trong việc cung cấp các biện pháp kiểm soát vector truyền bệnh và nhu cầu tăng cường các hệ thống y tế này, một khuôn khổ chiến lược khu vực về quản lý vector truyền bệnh tổng hợp đã được xây dựng. Chiến lược này dựa trên các nguyên tắc tăng cường phối hợp liên ngành và nội ngành, hợp tác ở mọi cấp độ, tiêu chí ra quyết định ở cấp thấp nhất và sự phối hợp hiệu quả giữa các biện pháp can thiệp bền vững và dựa trên bằng chứng.
Hỗ trợ công tác PCSR trong các tình huống dịch bệnh và khẩn cấp phức tạp.Dịch bệnh sốt rét khá thường xuyên xảy ra ở các quốc gia trong khu vực. Chiến lược khu vực nhằm mục đích ngăn ngừa hoặc giảm thiểu tác động của dịch bệnh bằng cách phát hiện sớm và ứng phó kịp thời với việc thực hiện các biện pháp kiểm soát sốt rét hiệu quả. Lợi ích tối đa đạt được khi các biện pháp được thực hiện ở giai đoạn rất sớm. Điều này sẽ đòi hỏi việc phát triển một hệ thống giám sát hiệu quả về chi phí, bao gồm dự báo, cảnh báo sớm và phát hiện, dẫn đến việc nhận biết dịch bệnh rất sớm và thực hiện ngay các biện pháp kiểm soát hoặc thực hiện các biện pháp kiểm soát phòng ngừa trước khi dịch bệnh bắt đầu.
Hỗ trợ các quốc gia tăng cường năng lực của các chương trình kiểm soát sốt rét ở cấp quốc gia và cấp huyện như một phần của phương pháp tiếp cận tăng cường hệ thống y tế. Nâng cao năng lực thể chế quốc gia trong lập kế hoạch và quản lý công tác PCSR là một chiến lược quan trọng để duy trì các chương trình PCSR bền vững. Để giải quyết vấn đề,TCYTTGsẽ hỗ trợ kỹ thuật cho các nước phát triển các chương trình kiểm soát bệnh sốt rét, như một phần của hệ thống cung cấp dịch vụ CSSK, trong ba lĩnh vực có liên quan mật thiết: cơ sở hạ tầng và trang thiết bị; nguồn nhân lực và thông tin. TCYTTG cũng sẽ hỗ trợ kỹ thuật trong việc thiết lập các cơ chế hiệu quả để mua sắm, phân phối và kiểm soát chất lượng thuốc, hóa chất và các mặt hàng thiết yếu khác.
Hợp tác là yếu tố then chốt cho sự thành công của chiến lược kiểm soát/LTSR. Số lượng các đối tác đã được tăng cường ở tất cả các quốc gia trong khu vực có gánh nặng bệnh sốt rét cao. Các đối tác gồm các cơ quan chính phủ ngoài Bộ Y tế, các tổ chức Phi chính phủ trong nước và quốc tế, khu vực tư nhân, các phương tiện truyền thông đại chúng, các cơ quan song phương và đa phương và các tổ chức tài trợ.Tăng cường hệ thống giám sát, như một chiến lược xuyên suốt, là điều vô cùng quan trọng để đạt được kết quả trong các chương trình kiểm soát dịch bệnh. Hệ thống giám sát cần thiết cho việc xác định ưu tiên, hoạch định chính sách và ra quyết định, cũng như cho mục đích lập kế hoạch, thực hiện, giám sát và đánh giá.
Nghiên cứu thực địa ứng dụng sẽ tiếp tục được hỗ trợ. Văn phòng khu vực, phối hợp chặt chẽ với các chương trình và tổ chức PCSR quốc gia, sẽ phát triển các chủ đề nghiên cứu ưu tiên nhằm giúp các quốc gia cập nhật chiến lược quốc gia dựa trên bằng chứng và giải quyết những thiếu sót trong các chương trình kiểm soát và LTSR.
CÁC VẤN ĐỀ CỤ THỂ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC LOẠI TRỪ BỆNH SỐT RÉT
Khu vực không có sốt rét được định nghĩa là khu vực không có sự lây truyền sốt rét tại địa phương và do đó không có trường hợp mắc bệnh nội địa nào xảy ra. Chỉ có những trường hợp nhập khẩu mới có thể xảy ra. Hiện nay, 13 quốc gia trong khu vực đã không còn bệnh sốt rét. Ở các quốc gia còn lại, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét rất khác nhau. Các khu vực mục tiêu để loại trừ bao gồm các ổ dịch còn sót lại, cũng như các khu vực lưu hành bệnh lớn hơn, đông dân hơn, nơi việc đạt được trạng thái không có bệnh là khả thi.
Phần lớn thành công trong công tác PCSR có thể được quy cho tính chất theo chiều dọc của chương trình PCSR cả ở cấp độ toàn cầu và quốc gia. Nghĩa là, một chương trình có mục tiêu rõ ràng, chỉ tiêu có thể định lượng, tập trung vào một bệnh duy nhất và được thực hiện với sự quản lý tập trung và các nguồn lực chuyên dụng (nhân lực, kinh phí). Tuy nhiên, chặng cuối cùng hướng tới việc LTSR đang đặt ra những thách thức mới và cần có phương pháp tiếp cận mới.
Trước tiên, chúng ta cần giải quyết thách thức tiếp cận những cộng đồng khó tiếp cận nhất. Ví dụ, những người sống ở vùng nông thôn hẻo lánh, các dân tộc thiểu số và các nhóm dân cư bị thiệt thòi khác thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận và do đó có ít cơ hội tiếp xúc với các dịch vụ y tế nhất, trình độ học vấn và hiểu biết về sức khỏe thấp hơn và sức khỏe kém hơn đối với nhiều bệnh tật.Thứ hai, chúng ta cần vượt ra ngoài việc triển khai các phương pháp kỹ thuật, theo chiều dọc tiêu chuẩn và tiến hành xem xét tất cả yếu tố về phía cầu và phía cung. Chúng ta cần hiểu rõ hơn các yếu tố xã hội và văn hóa định hình hành vi sức khỏe trong cộng đồng, vai trò của các tổ chức và mạng lưới cộng đồng trong việc cung cấp lời khuyên đáng tin cậy và nhận thức của cộng đồng về hệ thống y tế. Chúng ta cần suy ngẫm về những thiếu sót trong việc thực hiện chương trình hiện tại, bao gồm cả việc xem xét các rào cản chính sách quan trọng.
Thứ ba, chúng ta cần đưa các dịch vụ y tế công cộng trở thành xu hướng chủ đạo và tích hợp tốt hơn với phần còn lại của hệ thống y tế để giải quyết nhiệm vụ LTSR. Cách tiếp cận này cần nhấn mạnh các dịch vụ tích hợp, lấy con người làm trung tâm, được cung cấp tại nơi người dân sinh sống. CSSK ban đầu là điểm then chốt cho các dịch vụ cá nhân và cộng đồng, nơi có thể xác định và điều trị ca bệnh cho cá nhân, giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân và cộng đồng và các hoạt động tiếp cận cộng đồng và can thiệp môi trường có thể được thực hiện.
Thứ tư, chúng ta cần cởi mở với những đổi mới có thể giúp chúng ta đạt được mục tiêu LTSR, bao gồm cả những kết quả quan trọng tiềm tàng từ các thử nghiệm vaccine gần đây và các tác nhân điều trị mới. Cuối cùng và quan trọng nhất, chúng ta cần duy trì ý chí chính trị và cam kết trước những ưu tiên cạnh tranh và nguồn lực giảm sút khi các quốc gia tiếp tục vật lộn với đại dịch. Trong giai đoạn đầu của đại dịch, nhiều quốc gia đã tập trung nguồn lực khan hiếm của mình vào các dịch vụ COVID-19, thậm chí bỏ bê các vấn đề sức khỏe khác. Với đại dịch kéo dài, các nhà lãnh đạo chính phủ và ngành y tế sẽ cần phải cam kết lại với nhận thức rằng sức khỏe và phát triển là không thể tách rời của nhau và cần phải tái cấu trúc nguồn lực để đạt được hiệu quả, tính hiệu lực và sự công bằng cao nhất.
Những yếu tố phức tạp nào cần được xem xét để tiếp cận chặng đường cuối cùng? Sức khỏe bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường, hành vi và việc tìm kiếm dịch vụ CSSK. Cần xem xét cách giải quyết cả các yếu tố ảnh hưởng từ phía cầu và phía cung để giải quyết vấn đề đường cuối cùng. Sự tương tác giữa các nhà cung cấp dịch vụ y tế và bệnh nhân cũng như cộng đồng bị chi phối bởi nhiều yếu tố, vì vậy các chiến lược tiếp cận đường cuối cùng cần được điều chỉnh phù hợp với từng cộng đồng và dân cư. Trước hết, cần có các chính sách phù hợp, dựa trên bằng chứng và khả thi, ví dụ như để đảm bảo các chức năng cốt lõi của YTCC như giám sát, năng lực phòng thí nghiệm, hệ thống thông tin và các chiến lược tiếp cận/giáo dục được tăng cường. Các chính sách này cũng phải được xem xét trong bối cảnh bảo hiểm y tế toàn dân và cách tiếp cận "toàn bộ ngành y tế". Điều này bao gồm việc xác định các yếu tố chương trình cốt lõi và các phương thức cung cấp dịch vụ, điều chỉnh tài chính phù hợp với việc cung cấp dịch vụ, bao gồm tăng cường tài trợ trong nước và tăng cường các thể chế để giám sát, quản lý và đánh giá việc cung cấp dịch vụ và tài chính của nó. Khung hành động khu vực về chuyển đổi sang tài chính tích hợp cho các dịch vụ YTCC ưu tiên ở Tây Thái Bình Dương, cung cấp hướng dẫn về cách hỗ trợ tích hợp các chương trình theo chiều dọc vào bảo hiểm y tế toàn dân.
Thứ hai, cần phải có các chính sách để đảm bảo quản trị liên ngành và đa bên hiệu quả. Các cơ chế có thể kết nối y tế với tài chính, quy hoạch, phát triển xã hội, nông nghiệp và công nghiệp, tạo cơ hội để nhấn mạnh sự nhất quán và bổ sung lẫn nhau trong chính sách giữa các lĩnh vực. Bằng cách tận dụng sự tham gia của cộng đồng để phản ánh tiếng nói và vai trò xã hội dân sự, chính sách và thể chế có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cộng đồng và giải quyết hiệu quả hơn các thách thức chung.
Thứ ba và ở cấp độ khu vực cao hơn, việc thực hiện các chính sách cần thiết trong các quốc gia sẽ tiếp tục cần đến sự vận động mạnh mẽ từ các quan chức cấp cao và Bộ trưởng y tế tại các tổ chức khu vực như ASEAN. Đây là vai trò và mục tiêu quan trọng của APLMA cần được duy trì và tăng cường, đồng thời tiếp tục nhấn mạnh sự hội nhập tốt hơn giữa APLMA và APMEN ở cấp quốc gia. Việc duy trì vận động ở cấp độ chính trị cao nhất sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác khu vực giữa các quốc gia trong khu vực và sự hỗ trợ hợp tác liên tục từ các tổ chức đa phương, các cơ quan phát triển song phương, các tổ chức từ thiện và các tổ chức phi chính phủ Quốc tế.
Chặng đường cuối cùng không nên được xem là một giấc mơ xa vời mà là một mục tiêu đáng giá, có thể đạt được, nơi khoa học, chính sách và sự lãnh đạo chính trị cuối cùng sẽ mang lại lợi ích cho những người đang phải chịu đựng bệnh sốt rét trong khu vực. Như lời của Henry David Thoreau (1817-1862), "Mọi nỗ lực đều đòi hỏi khả năng vượt qua chặng đường cuối cùng, định hình kế hoạch cuối cùng, chịu đựng những giờ phút lao động cuối cùng". Mặc dù chặng đường cuối cùng có thể là gian khổ nhất, nhưng nó cũng có thể là chặng đường mang lại nhiều phần thưởng nhất.
Bối cảnh: TCYTTG khuyến nghị một bộ các biện pháp can thiệp và điều trị cốt lõi để PCSR do Plasmodium falciparum gây ra. Đó là điều trị, màn ngủ tẩm thuốc diệt muỗi lâu dài, phun thuốc diệt côn trùng trong nhà và các biện pháp phòng ngừa bằng hóa chất. Nguồn tài trợ trong nước và nước ngoài cho các công cụ này đều có hạn. Khi đối mặt với những hạn chế về ngân sách, việc giới thiệu và mở rộng quy mô các biện pháp can thiệp và điều trị phải được ưu tiên. Phương pháp nên ước tính chi phí và tác động của các biện pháp can thiệp khác nhau được kết hợp với mô hình toán học về sự lây truyền bệnh sốt rét để ước tính thứ tự ưu tiên các biện pháp can thiệp hiệu quả nhất về chi phí. Tỷ lệ hiệu quả chi phí gia tăng được sử dụng để lựa chọn giữa việc mở rộng phạm vi bao phủ của các biện pháp can thiệp hiện tại hoặc giới thiệu một công cụ can thiệp bổ sung. Kết quả cần nêu ra đạt được trong phòng ngừa, dưới hình thức kiểm soát vật trung gian truyền bệnh, có hiệu quả-chi phí và mở rộng quy mô được ưu tiên trong mọi kịch bản.
Phòng ngừa làm giảm gánh nặng bệnh sốt rét và do đó cho phép thực hiện điều trị một cách hiệu quả hơn về chi phí bằng cách giảm bớt gánh nặng cho hệ thống y tế. Các biện pháp phòng ngừa bằng hóa chất (phòng ngừa sốt rét theo mùa bằng hóa chất và điều trị dự phòng gián đoạn ở trẻ sơ sinh) là những công cụ bổ sung, nếu có đủ kinh phí, sẽ được thực hiện cùng với việc mở rộng quy mô điều trị. Các công cụ trong tương lai, chẳng hạn như vaccine RTS,S, có tác động ở những khu vực có tỷ lệ lây truyền cao hơn nhưng được đưa vào sử dụng muộn hơn so với các biện pháp can thiệp cốt lõi.
Trong một chương trình có ngân sách hạn chế, điều cần thiết là phải ưu tiên đầu tư hiệu quả vào các công cụ hiện có để tối đa hóa tác động của mỗi khoản đầu tư. Các trụ cột của việc kiểm soát bệnh sốt rét: kiểm soát vật trung gian truyền bệnh và điều trị, vẫn rất quan trọng, nhưng các câu hỏi về thời điểm mở rộng quy mô và thời điểm đưa ra các biện pháp can thiệp khác cần được đánh giá một cách nghiêm túc. Phân tích định lượng này xem xét việc mở rộng quy mô hoặc các biện pháp can thiệp cốt lõi để hỗ trợ việc ra quyết định trong lĩnh vực này.
(còn nữa) --> Tiếp theo Phần 3
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang &Ths.Bs. Châu Văn Khánh
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn