Trong thực hành lâm sàng, mục tiêu điều trị hiện nay không chỉ là giảm triệu chứng, mà còn phảiduy trì sự tỉnh táo, an toàn và tuân thủ lâu dài.Trên toàn cầu, viêm mũi dị ứng ảnh hưởng khoảng 25-40% dân số, trong khi mày đay được ước tính gặp ở khoảng 20% dân số ít nhất một lần trong đời do nhiều nguyên nhân và bệnh lý khác nhau. Trong vòng 20-30 năm qua, tỷ lệ viêm mũi dị ứng tại nhiều quốc gia đã tăng khoảng 1,5-2 lần, đặc biệt tại các khu vực đô thị hóa nhanh.
Tại Việt Nam, khoảng 20% dân số mắc các bệnh dị ứng, mề đay. Thường bắt đầu trước tuổi 20 (80% trường hợp), tuổi khởi phát trung bình từ 8 - 11 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở các đối tượng trong khoảng 12-15 tuổi, tần suất xuất hiện bệnh ở thành thị cao hơn nông thôn.
Bilastine có công thức 2-[4-[2-[4-[1-(2-ethoxyethyl) benzimidazol-2-yl] piperidin-1-yl] ethyl] phenyl]-2-methylpropionic acid, là một phân tử có trọng lượng phân tử là 463,6 dalton và cấu trúc hóa học tương tự như piperidinyl-benzimidazole. Do đó, bilastine có thể được phân loại vào cùng nhóm hóa học với nhiều loại thuốc kháng histamine mới trên thị trường, mặc dù nó không có nguồn gốc về cấu trúc, cũng không phải là chất chuyển hóa hoặc đồng phân quang học của bất kỳ loại nào trong số đó, mà là một phân tử nguyên bản được thiết kế với mục đích đáp ứng tất cả các yêu cầu của một loại thuốc kháng histamine thế hệ thứ hai .
Bilastine là thuốc kháng histamin thế hệ 2, tác dụng kéo dài (24 giờ), được chỉ định điều trị viêm mũi dị ứng (hắt hơi, sổ mũi, ngứa mũi, nghẹt mũi, đỏ/chảy nước mắt) và mày đay. Thuốc ít gây buồn ngủ, dùng 1 lần/ngày. Nên uống khi đói (1h trước hoặc 2h sau ăn). Liều dùng 20mg cho người lớn và trẻ em >12 tuổi. Thuốc khi dùng có thể có tác dụng phụ như gây đau đầu, buồn ngủ (nhưng hiếm hơn thế hệ 1). Bilastine tương tác đáng kể với thức ăn và nước trái cây (đặc biệt là nước bưởi), làm giảm 20-30% hiệu quả, nên uống thuốc khi đói. Các thuốc ức chế P-gp như ketoconazole, erythromycin, diltiazem có thể làm tăng nồng độ bilastine trong máu, nhưng thường ít gây rủi ro an toàn đáng kể.
Hình 1. Thời gian ra đời các thuốc kháng histamine thuộc các thế hệ khác nhau
Về tương tác của thuốc bilastine chính cần lưu ý về thực phẩm và nước trái cây, thức ăn làm giảm sinh khả dụng của viên nén xuống 20-30%. Nước bưởi và nước trái cây khác giảm tác dụng thuốc, nên uống trước khi ăn 1 giờ hoặc sau khi ăn 2 giờ.
Thuốc ức chế P-glycoprotein (P-gp), dùng chung với ketoconazole (kháng nấm), erythromycin (kháng sinh), diltiazem (tim mạch), cyclosporine có thể làm tăng nồng độ thuốc bilastine trong máu. Đối với rượu, mặc dù không làm tăng thêm tác dụng phụ buồn ngủ của rượu, nhưng nên hạn chế, đặc biệt không thấy tương tác làm tăng tác dụng lên thần kinh trung ương khi dùng cùng lorazepam.
Bảng 1. Hướng dẫn điều trị hiện tại của thuốc bilastine, desloratidine và fexofenadine
| Độ tuổi và liều dùng | Bilastine | Desloratadine | Fexofenadine |
| Độ tuổi sử dụng | ≥ 2 tuổi (tùy dạng bào chế) | ≥ 6 tháng tuổi | ≥ 2 tuổi (tùy dạng bào chế) |
| Liều dùng | • 2 - 11 tuổi: 10mg/ngày • ≥ 12 tuổi: 20mg/ngày | • 6 - 11 tháng: 1mg/ngày • ≤ 5 tuổi: 1.25mg/ngày • 6 - 11 tuổi: 2.5mg/ngày • ≥ 12 tuổi: 5mg/ngày | • 2 – 11 tuổi: 30 mg x 2 lần/ngày • ≥ 12 tuổi: 120–180 mg/ngày |
Bilastine là một thuốc kháng H1 thế hệ mới được phát triển nhằm cân bằng giữa hiệu quả kiểm soát triệu chứng và khả năng dung nạp. Thuốc tác động chủ yếu ở ngoại biên và ít thâm nhập hệ thần kinh trung ương (TKTU), vì vậy hạn chế buồn ngủ & phù hợp với mục tiêu điều trị hiện nay trong viêm mũi dị ứng và mày đay, thuốc giúp kiểm soát triệu chứng, hỗ trợ chất lượng sống và duy trì hoạt động ban ngày.
Về ưu điểm nổi bật của thuốc bilastine, cho thấy thuốc khởi phát nhanh sau 1 giờ uống và duy trì tác dụng đến 24 giờ, thuốc ít chuyển hóa qua CYP, nên tiềm năng tương tác thấp, không cần chỉnh liều suy gan, suy thận, không ghi nhận ảnh hưởng tim mạch, chọn lọc mạnh trên thụ thể H1, ít/không ái lực đáng kể với thụ thể cholinergic/serotonin và gần như không gây buồn ngủ.
Dữ liệu lâm sàng sử dụng bilastine trên bệnh nhân viêm mũi dị ứng, Abdullah B và cộng sự (2022) chỉ ra qua phân tích tổng hợp gồm 5 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCTs) đánh giá thuốc bilastine 20 mg trong điều trị viêm mũi dị ứng cho thấy bilastine giúp giảm tổng điểm triệu chứng (TSS), bao gồm triệu chứng ở mũi và mắt, giảm mức độ khó chịu & cải thiện chất lượng cuộc sống, đồng thời ghi nhận hồ sơ an toàn thuận lợi với tỷ lệ tác dụng không mong muốn thấp. Nghiên cứu tiếp theo của Kimihiro Okubo và cộng sự (2017) kéo dài đến 52 tuần tại Nhật Bản trên các bệnh nhân viêm mũi dị ứng theo mùa và quanh năm cho thấy kết quả cải thiện triệu chứng sau 2-4 tuần, hiệu quả duy trì lên đến 52 tuần. Bên cạnh đó, mức độ hài lòng của bệnh nhân gia tăng theo thời gian sử dụng thuốc.
Với các bệnh nhân có triệu chứng mày đay, nghiên cứu của Fukunaga A và cộng sự (2024) trên 128 bệnh nhân so sánh chiến lược chuyển sang bilastine 20 mg/ngày với chiến lược tăng liều kháng H1 khác lên gấp đôi. Kết quả cho thấy chuyểnsang bilastine đạt hiệu quả “không kém hơn” so với tăng liều (p=0,007), với dung nạp thuận lợi hơn và không làm tăng cảm giác buồn ngủ. Đồng thời, K. Weller và cộng sự (2018) đánh giá trên 29 bệnh nhân có mày đay mạn tính chưa kiểm soát với bilastine liều 20/40/80 mg trong 6 tuần cho thấy thuốc bilastine 20 mg có hiệu quả và việc tăng liều giúp cải thiện mức độ triệu chứng của bệnh nhân.
Một số đặc tính dược động học
Bilastine liên kết với thụ thể histamine H1 ở tiểu não chuột lang (Ki=44 nM) và với thụ thể histamine H1 tái tổ hợp ở người (Ki=64 nM) với ái lực tương đương với astemizole và diphenhydramine và cao hơn gấp ba lần so với cetirizine và gấp 5 lần so với fexofenadine (Corcóstegui). Trong các mô hình chuột khác nhau, bilastine dùng đường uống, đối kháng với tác dụng của histamine theo cách phụ thuộc liều, với hiệu lực tương tự như cetirizine và cao hơn từ 5,5 đến 10 lần so với fexofenadine. Các nghiên cứu tiền lâm sàng chứng minh ái lực và tính đặc hiệu của bilastine đối với thụ thể histamine H1 so với các phân nhóm thụ thể histamine khác và 30 thụ thể khác từ các amin khác nhau. TNLS trên cơ thể sống đã xác nhận hoạt tính kháng histamine và chống dị ứng, ít nhất là tương đương với các thuốc kháng histamine H1 thế hệ thứ hai khác như cetirizine.
Bilastine được hấp thụ nhanh nhất khi không có thức ăn và đạt nồng độ đỉnh trung bình trong huyết tương là 220 ng/mL khoảng 1 giờ sau khi dùng liều đơn và liều đa. Sự hấp thụ bị giảm khi dùng bữa sáng nhiều chất béo hoặc nước ép trái cây và sinh khả dụng đường uống toàn cầu ước tính khoảng 60%.Bilastine có dược động học tuyến tính trong phạm vi liều 2,5-220 mg ở người lớn khỏe mạnh mà không có bằng chứng tích lũy sau 14 ngày điều trị. Bilastine phân bố có thể tích phân bố biểu kiến là 1,29 L/kg, có thời gian bán thải là 14,5 giờ và liên kết protein huyết tương là 84-90%.Bilastine là một loại thuốc có tính chọn lọc ngoại vi và điều này được cho là do sự hấp thu hạn chế ở não do liên kết với P-glycoprotein.
Bilastine không được chuyển hóa đáng kể ở người và phần lớn được thải trừ nguyên vẹn qua nước tiểu và phân, lần lượt là một phần ba và hai phần ba liều dùng, theo một nghiên cứu cân bằng khối lượng giai đoạn I với bilastine được đánh dấu phóng xạ. Bilastine không dễ dàng vượt qua hàng rào máu não và không được chuyển hóa bởi gan. 96% liều dùng được thải trừ trong vòng 24 giờ. Liên quan đến tác dụng kháng histamine của nó, liều uống 20 mg bilastine mỗi ngày, được đo bằng diện tích bề mặt nổi mẩn và đỏ trên da trong 24 giờ, bilastine có khả năng ức chế 50% diện tích bề mặt trong suốt toàn bộ khoảng thời gian dùng thuốc.
Về nghiên cứu lâm sàng
Các nghiên cứu lâm sàng sử dụng các liều lượng khác nhau đã được thực hiện trên phản ứng nổi mẩn và đỏ do histamine gây ra trong khoảng thời gian 24 giờ, so với một liều uống 10 mg cetirizine duy nhất. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy bilastine có hiệu quả ít nhất tương đương với cetirizine trong việc giảm các tác dụng trung gian bởi histamine ở những người tình nguyện khỏe mạnh. Đáng chú ý, 20 và 50 mg bilastine làm giảm phản ứng nổi mẩn và đỏ nhanh hơn cetirizine.
So sánh các lựa chọn điều trị phổ biến hiện nay
Đứng trước nhiều lựa chọn về hoạt chất điều trị nên lựa chọn loại điều trị nào cho hợp lý và phù hợp với từng bệnh nhân cụ thể:
| Bilastine | Desloratadine | Fexofenadine | | Độ tuổi sử dụng | ≥ 2 tuổi (tùy dạng bào chế) | ≥ 6 tháng tuổi | ≥ 2 tuổi (tùy dạng bào chế) | | Liều dùng | • 2 - 11 tuổi: 10mg/ngày • ≥ 12 tuổi: 20mg/ngày | • 6 - 11 tháng: 1mg/ngày • ≤ 5 tuổi: 1.25mg/ngày • 6 - 11 tuổi: 2.5mg/ngày • ≥ 12 tuổi: 5mg/ngày | • 2 – 11 tuổi: 30 mg x 2 lần/ngày • ≥ 12 tuổi: 120–180 mg/ngày | | Dạng bào chế | Viên nén, ODT, Dung dịch uống | Viên nén, siro | Viên nén, ODT, hỗn dịch uống | | Buồn ngủ | Rất thấp | Thấp | Rất thấp | | Ảnh hưởng rượu | Không | Không | Không | | Hiệu chỉnh liều suy thận | Không | Thận trọng | Cần giảm nửa liều khởi đầu | | Tác động tim mạch | Không ghi nhận | Không ghi nhận | Không ghi nhận | | Thời gian điều trị | Ngắn hoặc dài hạn | Ngắn hoặc dài hạn | Ngắn hoặc dài hạn | |
Bilastine là một loại thuốc kháng histamine H1 không gây buồn ngủ, an toàn và hiệu quả, thường được kê đơn và chấp thuận để điều trị triệu chứng ở bệnh nhân mắc các rối loạn dị ứng như viêm mũi kết mạc và nổi mề đay. Thuốc đã được đánh giá trên nhiều bệnh nhân trong suốt quá trình phát triển lâm sàng cần thiết để được phê duyệt, nhưng các thử nghiệm lâm sàng thường loại trừ nhiều bệnh nhân có thể hưởng lợi trong thực tiễn lâm sàng hàng ngày (đặc biệt là những người mắc các bệnh đồng thời và/hoặc đang được điều trị bằng các loại thuốc khác). Sau khi được đưa vào thực tiễn lâm sàng, các Chuyên gia Thông tin Y tế tại Faes Farma đã nhận được nhiều câu hỏi thực tế liên quan đến việc dùng bilastine tối ưu trong trường hợp khác nhau.
Bộ phận Thông tin Y tế của Mỹ thường nhận được nhiều câu hỏi về khả năng tương tác thuốc giữa bilastine và các thuốc các như thuốc chống đông máu (bao gồm cả thuốc chống đông máu đường uống thế hệ mới), thuốc kháng virus, phác đồ điều trị lao, corticosteroid, digoxin, thuốc tránh thai đường uống, thuốc ức chế bơm proton. Hầu hết thuốc này thường không được phép dùng trong các thử nghiệm lâm sàng (TNLS), vì vậy lời khuyên cần dựa trên hồ sơ dược lý của các thuốc liên quan và ý kiến chuyên gia. Hồ sơ dược động học của bilastine có vẻ thuận lợi vì thuốc này trải qua quá trình chuyển hóa không đáng kể và gần như được thải trừ hoàn toàn qua thận, đồng thời không gây cảm ứng cũng không ức chế hoạt động của isoenzyme thuộc hệ thống CYP 450. Do đó, bilastine không tương tác với các con đường chuyển hóa cytochrome.
Các câu hỏi khác liên quan đến các nhóm bệnh nhân cụ thể như bệnh nhân suy thận, phụ nữ đang cho con bú hoặc đang cố gắng mang thai và bệnh nhân mắc các bệnh đồng thời khác. Điều thú vị là một số câu hỏi liên quan đến các chủ đề đã được đề cập đầy đủ trong tóm tắt đặc tính sản phẩm (SmPC), điều này cho thấy nguồn tài liệu này chưa được sử dụng hiệu quả.Nhìn chung, phân tích này chỉ ra những lỗ hổng trong kiến thức về cách sử dụng bilastine tối ưu. Ý kiến chuyên gia dựa trên sự hiểu biết về khoa học có thể giúp đưa ra quyết định, nhưng cần nhiều nghiên cứu hơn để cung cấp câu trả lời dựa trên bằng chứng trong các trường hợp cụ thể.
Mặc dù thiếu kinh nghiệm trực tiếp về việc dùng đồng thời nhiều loại thuốc với bilastine, nhưng có dữ liệu có sẵn có thể giúp chúng ta đưa ra quyết định sáng suốt về sự cân bằng giữa rủi ro và lợi ích của một số sự kết hợp thuốc nhất định. Đặc biệt, hồ sơ dược động học bilastine có vẻ thuận lợi vì nó trải qua quá trình chuyển hóa không đáng kể và gần như được thải trừ hoàn toàn qua bài tiết qua thận. Bilastine không gây cảm ứng cũng không ức chế hoạt động in vitro của một số isoenzyme từ hệ thống CYP 450, nên bilastine không tương tác với các con đường chuyển hóa cytochrome và điều này giải thích câu trả lời tích cực cho câu hỏiliệu có thể dùng bilastine cùng với các thuốc như acenocoumarol, rivaroxaban, apixaban, clopidogrel, corticosteroid, thuốc ức chế bơm proton và thuốc tránh thai đường uống không?
Giống như digoxin, bilastine là chất nền cho chất vận chuyển thải trừ P-glycoprotein (P-gp), và do đó nó có khả năng tương tác với các thuốc được thải trừ qua con đường này như rivaroxaban, apixaban, digoxin và một số loại thuốc được sử dụng để điều trị bệnh lao. Tuy nhiên, vì nó không ức chế hoạt động chất vận chuyển P-gp nên rủi ro với bilastine được coi là tối thiểu.
Đối với nhiều phụ nữ mang thai (PNMT), điều trị bằng thuốc là cần thiết để kiểm soát các triệu chứng. Mặc dù thuốc có thể gây nguy hiểm, nhưng việc điều trị không tối ưu cho người mẹ có thể gây hại nhiều hơn cho thai nhi. Bất kỳ loại thuốc nào được dùng trong thời kỳ mang thai đều tiềm ẩn nguy cơ gây quái thai cho thai nhi. Vì lý do đạo đức, nhãn sản phẩm của thuốc kháng histamine thường ghi rõ rằng nên tránh sử dụng chúng trong thời kỳ mang thai do thiếu dữ liệu về độ an toàn cho thai nhi. Tuy nhiên, tại Mỹ, từ năm 2001-2006, gần một nửa số ca mang thai là ngoài ý muốn và điều này có thể dẫn đến việc thai nhi tiếp xúc với thuốc kháng histamine trong một thời gian trước khi thai kỳ được xác nhận, do đó, việc nâng cao nhận thức về nguy cơ tổng thể đối với thai nhi đang phát triển là rất quan trọng.
Có thể sử dụng bilastine trong thời kỳ mang thai không?
Hiện chưa có đủ thông tin để đưa ra quyết định sáng suốt về sự an toàn của bilastine trong thời kỳ mang thai. Thuốc kháng histamine thường được sử dụng để điều trị một số bệnh thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, phổ biến nhất là viêm mũi dị ứng và nổi mề đay. Thực tế, người ta ước tính rằng có tới 20-30% phụ nữ bị viêm mũi dị ứng va 4-7% bị hen trong thời kỳ mang thai, cùng với một số bệnh về da liễu, khiến chúng trở thành một trong những nhóm bệnh lý phổ biến nhất gây biến chứng trong thai kỳ. Những bệnh này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống người mẹ vì chúng có thể gây suy nhược nghiêm trọng, biểu hiện với một loạt các triệu chứng như chảy nước mũi, ngứa và nghẹt mũi ở bệnh nhân viêm mũi dị ứng và một loạt các bệnh về da liễu ở bệnh nhân bị nổi mề đay.
Tính an toàn của thuốc kháng histamine chưa được xác định đầy đủ trong thời kỳ mang thai và chúng chỉ nên được sử dụng nếu, theo đánh giá của bác sĩ lợi ích vượt trội hơn rủi ro. Các khuyến nghị về nhãn thuốc trong thai kỳ của US.FDA hiện đang được sửa đổi. Hệ thống cũ sử dụng các loại an toàn khi mang thai A, B, C, D và X, mà FDA hiện cho là gây nhầm lẫn. Chúng sẽ bị loại bỏ và một hệ thống dựa trên tường thuật mới kết hợp tóm tắt các rủi ro của thuốc trong thai kỳ và thảo luận về dữ liệu hỗ trợ các tóm tắt sẽ được yêu cầu. FDA tin rằng những thay đổi này trong nhãn thuốc sẽ cung cấp thông tin có ý nghĩa hơn cho các bác sĩ lâm sàng. Hướng dẫn từ Cơ quan Dược phẩm Châu Âu (EMA) yêu cầu tất cả kiến thức hiện có, cả lâm sàng và phi lâm sàng, nên được xem xét khi đưa ra khuyến nghị về việc sử dụng thuốc ở PNMT hoặc đang cho con bú, và ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Điều này nên bao gồm đánh giá tích hợp dữ liệu phi lâm sàng và lâm sàng, bao gồm xem xét các đặc tính dược lý và dược động học phi lâm sàng của sản phẩm thuốc, cũng như kết quả từ các nghiên cứu độc tính phi lâm sàng và kinh nghiệm/kiến thức lâm sàng về các hợp chất trong cùng loại.
Bảng 3.Phân loại nguy cơ của thuốc trên nhóm phụ nữ mang thai của FDA
| Loại | Giải thích |
| MỘT | Các nghiên cứu có đối chứng cho thấy không có rủi ro. Các nghiên cứu đầy đủ &được kiểm soát tốt trên PNMT đã không chứng minh được rủi ro đối với thai nhi trong bất kỳ giai đoạn nào của thai kỳ. |
| B | Không có bằng chứng về nguy cơ ở người. Các nghiên cứu đầy đủ & được kiểm soát tốt trên PNMT không cho thấy nguy cơ gia tăng các bất thường do kim loại mặc dù có những phát hiện bất lợi trên động vật, hoặc trong trường hợp không có nghiên cứu đầy đủ trên người, các nghiên cứu trên động vật cho thấy không có nguy cơ đối với thai nhi. Khả năng gây hại do kim loại là rất nhỏ, nhưng vẫn có thể xảy ra. |
| C | Không thể loại trừ rủi ro. Hiện chưa có các nghiên cứu trên người được kiểm soát tốt và đầy đủ, các nghiên cứu trên động vật cũng chưa cho thấy nguy cơ đối với thai nhi. Có nguy cơ gây hại về mặt sinh học nếu thuốc được dùng trong PNMT, nhưng lợi ích tiềm năng có thể lớn hơn rủi ro tiềm tàng. |
| D | Bằng chứng rõ ràng về nguy cơ. Các nghiên cứu trên người, hoặc dữ liệu nghiên cứu hoặc hậu kỳ lưu hành thuốc, đã chứng minh nguy cơ liên quan đến kim loại. Tuy nhiên, lợi ích tiềm năng từ việc sử dụng thuốc có thể lớn hơn nguy cơ tiềm tàng. |
| X | Chống chỉ định trong PNMT. Các nghiên cứu trên động vật hoặc người, hoặc các báo cáo nghiên cứu hoặc sau khi lưu hành trên thị trường, đã chứng minh bằng chứng rõ ràng về các bất thường về kim loại hoặc nguy cơ vượt trội hơn bất kỳ lợi ích nào có thể có đối với bệnh nhân. |
Trong một nghiên cứu của Valk và đồng nghiệp, một liều duy nhất desloratadine 5 mg không gây ra tác dụng bất lợi nào, trong khoảng thời gian 6 giờ (Thang đo mức độ buồn ngủ Stanford 1, 2, 3, 5 và 6 giờ sau khi điều trị), đối với tình trạng buồn ngủ và khả năng thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến khả năng bay trong điều kiện áp suất cabin mô phỏng (2500 mét]; buồng giảm áp 564 mmHg. Ngược lại, bệnh nhân dùng thuốc kháng histamine H1 thế hệ đầu tiên diphenhydramine 50 mg cho thấy tình trạng buồn ngủ đáng kể ở mỗi thời điểm từ 1 giờ đến, và gồm cả 5 giờ.
Liên quan đến bilastine, một nghiên cứu gần đây (BISCAT), được tiến hành dưới sự giám sát của Pierre Valk (TNO, Soesterberg, Hà Lan) đánh giá tác dụng của một liều duy nhất 20 mg đối với khả năng bay ở những tình nguyện viên nam khỏe mạnh trong điều kiện áp suất cabin mô phỏng. Đây là một nghiên cứu chéo giai đoạn IV, đơn trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược sử dụng liều duy nhất bilastine 20 mg, hydroxyzine 50 mg (làm đối chứng dương) và giả dược. Giữa các giai đoạn điều trị, các cá nhân được trải qua thời gian đào thải ít nhất 1 tuần. Trong điều kiện độ cao cabin mô phỏng, các đối tượng được đánh giá bằng các công cụ đánh giá tiêu chuẩn sau: Nhiệm vụ cảnh giác và theo dõi (VigTrack), đo lường hiệu suất cảnh giác và theo dõi (tương tự như các nhiệm vụ trên chuyến bay do phi công chiến đấu thực hiện) và bộ nhiệm vụ đa thuộc tính đo lường khả năng thực hiện nhiều nhiệm vụ cùng một lúc (tương tự như các hoạt động trên chuyến bay mà các thành viên phi hành đoàn phải thực hiện và thang đo buồn ngủ Stanford, đo lường mức độ buồn ngủ chủ quan.
Đối với cả ba công cụ đánh giá, tác dụng của bilastine tương tự như tác dụng của giả dược trong toàn bộ thời gian nghiên cứu 6 giờ. Ngược lại, hydroxyzine làm suy giảm đáng kể khả năng thực hiện từng nhiệm vụ đánh giá của các đối tượng và dẫn đến sự gia tăng đáng kể hơn về điểm số buồn ngủ. Cũng như đối với tất cả thuốc kháng histamine thế hệ thứ hai, nên khuyên bệnh nhân, trong đó khả năng vận động tâm thần đóng vai trò quan trọng, nên thử điều trị bằng bilastine trước khi thực hiện các nhiệm vụ đó để xác định phản ứng cá nhân của họ. Cũng cần thông báo cho họ rằng, trong một số trường hợp hiếm gặp, một số người có thể bị buồn ngủ, điều này có thể ảnh hưởng xấu đến khả năng vận động tâm thần của họ.
Hình 2. Phân nhóm các thuốc kháng histamine thuộc thế hệ thứ 1 và thứ 2
Những cân nhắc tương tự cũng áp dụng cho việc sử dụng bilastine ở những cá nhân thực hiện các nhiệm vụ khác đòi hỏi kỹ năng tâm vận động như lái xe. Tác dụng thực tế của bilastine đối với hiệu suất lái xe đã được đánh giá trong một thử nghiệm lái xe trên đường trong một nghiên cứu chéo bốn chiều mù đôi ở 22 tình nguyện viên khỏe mạnh, những người được phân ngẫu nhiên nhận liều bilastine được khuyến nghị (20 mg) hoặc gấp đôi liều khuyến nghị (40 mg) mỗi ngày một lần, hydroxyzine 50 mg (kiểm soát hoạt động) hoặc giả dược trong 8 ngày liên tiếp. Biến số hiệu quả chính, SDLP (độ lệch chuẩn của vị trí ngang) trong thử nghiệm theo dõi đường, đã được đánh giá vào ngày đầu tiên và ngày thứ 8 của mỗi giai đoạn điều trị, không có sự khác biệt đáng kể giữa bilastine 20 mg hoặc gấp đôi liều khuyến nghị (40 mg) và giả dược về giá trị SDLP vào ngày 1 và ngày 8. Ngược lại, dù mức độ suy giảm khả năng lái xe giảm vào ngày thứ tám của quá trình điều trị, SDLP đã tăng đáng kể với hydroxyzine so với giả dược vào cả hai ngày đánh giá, cho thấy không có sự dung nạp theo thời gian đối với tác dụng an thần của nó. Điều quan trọng là không có tác dụng nào đối với khả năng lái xe sau khi dùng liều đơn và liều lặp lại bilastine, do đó cho thấy việc sử dụng an toàn thuốc này trong giao thông ở liều lên đến 40 mg.
Trong một nghiên cứu chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) ở những người tình nguyện khỏe mạnh, mức độ chiếm giữ thụ thể histamine-1 trong não của bilastine (sau liều 20 mg) thấp hơn đáng kể so với hydroxyzine (25 mg) ở cả năm vùng của vỏ não. Bilastine không liên quan đến tình trạng an thần chủ quan hoặc suy giảm khách quan về hiệu suất tâm thần vận động. Điều này chứng tỏ bilastine có khả năng thấp thâm nhập qua hàng rào máu não. Do đó, bilastine đã đáp ứng các tiêu chí dược lý, lâm sàng (chủ quan và khách quan) và PET có liên quan để được coi là một loại thuốc kháng histamine không gây buồn ngủ đáng tin cậy.
Có thể sử dụng bilastine cho bệnh nhân đã ghép thận không?
Cyclosporine, được sử dụng trong các phác đồ ức chế miễn dịch ở bệnh nhân ghép thận, có thể gây suy giảm chức năng thận và đã được chứng minh là tương tác với các thuốc được chuyển hóa qua hệ thống CYP P450. Điều này không phải là mối lo ngại đối với bilastine vì nó không được chuyển hóa và không cho thấy bất kỳ tương tác nào với CYP 450.
Cyclosporine cũng là một chất ức chế P-gp mạnh và vì lý do này, nó có thể làm tăng nồng độ thuốc trong huyết tương khi quá trình thải trừ thuốc được trung gian bởi P-gp.Nhìn chung, việc dùng bilastine ở bệnh nhân bị viêm mũi kết mạc dị ứng hoặc nổi mề đay đang trải qua cấy ghép nội tạng hoặc mô và được điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch như cyclosporine chỉ được khuyến cáo ở những người có chức năng thận bình thường hoặc suy giảm nhẹ và đang được theo dõi chặt chẽ. Tóm tắt đặc tính sản phẩm (SmPC) của bilastine khuyến cáo rằng thuốc không nên được sử dụng ở bệnh nhân được điều trị bằng cyclosporine bị suy thận từ vừa đến nặng.
Có thể sử dụng bilastine cho bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo không?
Mức độ ảnh hưởng của lọc máu đến thuốc chủ yếu được xác định bởi các đặc tính lý hóa của thuốc như kích thước phân tử và độ hòa tan trong nước, cũng như các đặc tính dược động học như hấp thu, độ thanh thải huyết tương, liên kết protein và thể tích phân bố. Ngoài các đặc tính này của thuốc, các khía cạnh kỹ thuật của quy trình lọc máu cũng có thể quyết định mức độ loại bỏ thuốc bằng lọc máu. Thật không may, rất ít nghiên cứu in vivo đã được công bố và hành vi dược động học của chỉ một số ít thuốc đã được nghiên cứu ở bệnh nhân lọc máu. Do đó, nhiều hướng dẫn về liều lượng thuốc trong quá trình điều trị thay thế thận liên tục được ngoại suy từ kinh nghiệm với lọc máu mãn tính hoặc từ các cân nhắc lý thuyết.
Hướng dẫn lọc máu thuốc bao gồm một bảng kèm theo là tài liệu tham khảo về tác động của lọc máu đến độ thanh thải thuốc. Điều này gồm các thuốc kháng histamine như cetirizine, desloratadine và fexofenadine, nhưng vì bilastine là một loại thuốc mới nên không có nghiên cứu hoặc khuyến nghị cụ thể nào. Chúng tôi cho rằng các đặc tính lý hóa của nó tương tự như của fexofenadine, nên khả năng lọc máu của bilastine có thể tương tự như của fexofenadine, mặc dù không có dữ liệu về bệnh nhân được lọc máu được dùng bilastine. Các khuyến nghị của hướng dẫn lọc máutThuốc năm 2013 đối với fexofenadine là lọc máu thông thường: NO/NS, NO cho biết lọc máu không có tác dụng quan trọng về mặt lâm sàng đối với độ thanh thải huyết tương và thường không cần bổ sung liều /NS cho biết loại màng không được chỉ định; lọc máu có độ thấm cao: ND cho biết không có dữ liệu về khả năng lọc máu của thuốc với loại lọc máu; lọc màng bụng: U cho biết việc loại bỏ thuốc đáng kể khó xảy ra dựa trên các đặc tính lý hóa của thuốc như liên kết protein, kích thước phân tử hoặc thể tích phân bố.
Có thể sử dụng bilastine cho bệnh nhân bị bí tiểu/tiểu khó không?
Một số thuốc kháng histamine, chủ yếu là sản phẩm thế hệ đầu tiên, có thể gây bí tiểu ở bệnh nhân bị phì đại tuyến tiền liệt lành tính. Điều này là do tương tác với thụ thể muscarinic và do tính chọn lọc thụ thể kém. Bilastine chưa được nghiên cứu trên một nhóm nhỏ đối tượng được chẩn đoán mắc BPH kèm theo bí tiểu và/hoặc tiểu khó. Tuy nhiên, dựa trên hồ sơ chọn lọc thụ thể của nó, được thiết lập rõ ràng trong các nghiên cứu tiền lâm sàng và kết quả từ đó được đưa vào phần đặc tính chất dược lý của SmPC 'không có ái lực với thụ thể muscarinic', có vẻ hợp lý khi cho rằng bilastine sẽ không làm tăng nguy cơ bí tiểu/tiểu khó.
(còn nữa) --> Tiếp theo Phần 2
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn