Trong IBD, việc ngừng thuốc hoặc kiểm soát bệnh không đầy đủ có thể ảnh hưởng đến cả người mẹ và thai nhi. Sự ra đời của bản “Đồng thuận quốc tế 2025”về quản lý IBD (bao gồm chẩn đoán và điều trị IBD) trong giai đoạn thai kỳ là bước tiến quan trọng giúp chuẩn hóa các Chiến lược điều trị, đảm bảo an toàn và cải thiện kết cục thai kỳ.
Hình 1. Các hậu quả của IBD trên phụ nữ mang thai và vai trò của quản lý ca bệnh|Nguồn: https://link.springer.com/article/10.1007/s12664-024-01657-4
Yếu tố ảnh hưởng đến thai kỳ khi phụ nữ mắc bệnh lý IBD
Một số yếu tố tác động đến phụ nữđang có thai kỳ mắc IBD gồm:
- Yếu tố di truyền: đóng vai trò quan trọng, trong đó con của người mắc Crohn có nguy cơ cao hơn so với viêm loét đại tràng (UC);
- Tiền sử bệnh: trẻ có cha hoặc mẹ mắc bệnh lý Crohn dễ phát triển bệnh hơn nhóm đối chứng;
- Bất thường nhau thai và viêm sẽ làm tăng nguy cơ sảy thai, sinh non và trẻ sinh ra nhẹ cân;
Môi trường: Kháng sinh, chế độ ăn kiểu Tây Âu và thay đổi hệ vi sinh vật đường ruột trong thai kỳ làm tăng nguy cơ mắc IBD ở thế hệ sau.
Khả năng sinh sản, thụ thai
Phụ nữ có bệnh lý IBD thường có nguy cơ vô sinh cao hơn, đặc biệt nếu bệnh chưa kiểm soát tốt.
• Phẫu thuật IPAA(Ileal Pouch Anal Anastomosis):Ảnh hưởng khả năng sinh sản do dính các cơ quan trong vùng chậu sau mổ.
• Dự trữ buồng trứng: Bệnh nhân có nồng độ AMH thấp hơn, nhất là sau 30 tuổi. Dữ liệu cho thấy chọc hút trứng an toàn, không làm tăng nguy cơ bùng phát bệnh.
• Sinh con muộn: làm giảm khả năng thụ thai, đặc biệt ở phụ nữ có IBD tiến triển hoặc kéo dài.
Tối ưu hóa về tư vấn tiền sản
Tư vấn tiền sản được khuyến cáo cho mọi phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, lý tưởng ít nhất 6 tháng trước khi mang thai, nhằm giảm thiểu nguy cơ bệnh.
Phụ nữ mắc IBD nên ưu tiên biện pháp tránh thai tác dụng kéo dài và đảo ngược (Long-Acting Reversible Contraception_LARC) vì hiệu quả cao và giúp giảm nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu (Veinous Thromboembolism_VTE) so với các thuốc chứa estrogen.
Bên cạnh đó, các nội dung tư vấn chính bao gồm: Thay đổi lối sống, kiểm soát tốt bệnh, duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý, phối hợp đa chuyên khoa khi cần và thực hiện tiêm chủng đầy đủ trước khi mang thai để đảm bảo an toàn cho mẹ và thai nhi.
Hình 2. Bệnh lý IBD hoạt động trong giai đoạn thai kỳ làm tăng nguy cơ bất lợi cho thai kỳ. Nguồn:https://pregnancy.ibdclinic.ca/resource/ibd-disease-activity-and-pregnancy/
Quản lý diễn tiến bệnh trong thai kỳ
• Theo dõi hoạt động bệnh:
• Xét nghiệm Calprotectin phân là công cụ hữu ích trong giám sát;
• Chẩn đoán hình ảnh (Siêu âm, MRI, nội soi) chỉ thực hiện khi thật cần thiết;
• Phẫu thuật: chỉ định khi cần; đánh giá rõ ràng về lợi ích - nguy cơ.
• Quản lý đa chuyên khoa: Thai kỳ IBD được xem là nguy cơ cao, cần theo dõi sát để ngăn biến chứng.
Quản lý thai kỳ
Phụ nữ mang thai mắc IBD được xem là nhóm nguy cơ cao tiền sản giật (2-5%), hướng dẫn khuyến cáo:
• Aspirin liều thấpnên bắt đầu từ tuần 12-16để phòng ngừa tiền sản giật sớm và ngừng ở tuần 36nhằm hạn chế nguy cơ xuất huyết khi sinh.
• Sinh mổ được ưu tiên ở bệnh nhân có IPAA hoặc rò trực tràng-âm đạo.
• Theo dõi dinh dưỡng tối ưu trong thai kỳ bao gồm kiểm soát cân nặng và bổ sung vitamin D, B12, acid folic.
Hình 3. Thuốc được dùng trong bệnh lý IBD khi phụ nữ mang thai và đang cho con bú Nguồn: https://www.nature.com/articles/nrgastro.2013.135
Quản lý sử dụng thuốc điều trị IBD trong thai kỳ và cho con bú
Điều trị IBD trong thai kỳ là thách thức do thiếu dữ liệu an toàn, song duy trì lui bệnh ổn định quan trọng hơn ngừng thuốc.
• 5-ASA và Sulfasalazine: Tiếp tục sử dụng trong thai kỳ; bổ sung 2 mg acid folic/ngày nếu dùng sulfasalazine;
• Corticosteroid: Chỉ dùng khi thật sự cần thiết, ngắn hạn trong đợt bùng phát;
• Methotrexate: Ngừng ít nhất 1 tháng, tốt nhất 3 tháng trước khi mang thai;
• Thiopurine (Azathioprine, 6-MP): Có thể tiếp tục duy trì khi cần, theo dõi chức năng ganvà chuyển hóa.
• Thuốc kháng TNF (Infliximab, Adalimumab): tiếp tục trong thai kỳ, giúp giảm nguy cơ sinh non và dị tật; có thể phối hợp thiopurine khi cần.
• Vedolizumab, Ustekinumab, kháng IL-23: duy trì khi cần kiểm soát bệnh.
• JAK inhibitors và S1P modulators: tránh dùng trong thai kỳ, chỉ cân nhắc khi không có lựa chọn thay thế an toàn;
Hầu hết các thuốc trên, ngoại trừ Methotrexate, JAKi và S1P modulators, được xem là an toàn khi cho con bú.
Tác động bất lợi trên mẹ và thai nhi
Trong bệnh lý IBD, những tác động bất lợi thường gặp như:
• Mẹ: tăng nguy cơ sinh non, sảy thai, VTE trong và sau sinh.
• Thai nhi: có thể nhẹ cân, chậm phát triển, tăng tỷ lệ nhập NICU.
Vấn đề vaccine
Tiêm chủng đầy đủ trong thai kỳ giúp bảo vệ mẹ và trẻ, đặc biệt ở bệnh nhân dùng liệu pháp sinh học hoặc kháng thể đơn dòng.
• Vắc-xin bất hoạt: Tiêm đúng lịch, kể cả với trẻ có phơi nhiễm thuốc IBD;
• Vắc-xin sống:• Có thể tiêm từ 1 tháng tuổi với trẻ phơi nhiễm thuốc ức chế JAK hoặc S1P modulator.
• Rotavirus: an toàn ở trẻ phơi nhiễm thuốc sinh học.
• BCG: tránh tiêm trong 6 tháng đầu đời ở trẻ phơi nhiễm thuốc sinh học do nguy cơ nhiễm lan tỏa và tử vong. Khuyến cáo đo nồng độ thuốc sinh học trong máu mẹ để điều chỉnh thời điểm tiêm thích hợp, giảm phơi nhiễm ở trẻ.
IBD là yếu tố nguy cơ ảnh hưởng rõ rệt đến thai kỳ và sức khỏe trẻ sau sinh. Đồng thuận quốc tế 2025 về quản lý IBD trong thai kỳ ra đời nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, đảm bảo an toàn và tối ưu hóa kết cục mẹ – con. Nội dung đồng thuận nhấn mạnh:
• Tư vấn tiền sản sớm để giảm thiểu rủi ro.
• Kiểm soát chặt chẽ diễn tiến bệnh và yếu tố nguy cơ.
• Quản lý toàn diện việc dùng thuốc trong thai kỳ và giai đoạn cho con bú.
• Thực hiện tiêm chủng đầy đủ và điều chỉnh lối sống phù hợp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Uma Mahadevan, María Chaparro, Emma Flanagan,Sonia Friedman, Mette Julsgaard, Sunanda Kane, Siew Ng,Joana Torres,Gillian Watermeyer, Jesus Yamamoto-Furusho, Christopher Robinson, Susan Fisher, Phil Anderson, Richard Gearry,Dana Duricova, Marla Dubinsky, Millie Long and the Global Consensus Group for Pregnancy and IBD. Global Consensus Statement on the Management of Pregnancy in Inflammatory Bowel Disease.
2. Greater Manchester and EasternCheshire SCN (2018). inflammatory Bowel Disease in Pregnancy Guideline.
3. Ole Haagen Nielsen, John Mark Gubatan, Kaija-Leena Kolho, Sarah Elizabeth Streett, Cynthia Maxwell, M (2024). Updates on the management of inflammatory bowel disease from periconception to pregnancy and lactation
Tác giả: TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn