Các bệnh hướng tới mục tiêu phòng chống
Năng lực chẩn đoán bệnh loét Buruli đang được tăng cường trên phạm vi toàn cầu, thể hiện qua tỷ lệtrường hợp được khẳng định bằng xét nghiệm ngày càng tăng. Tuy nhiên, tiến độ trong việc phát hiện ca bệnh và hoàn thành các liệu trình điều trị vẫn còn chậm.
Số lượng ca mắc sốt xuất huyết Dengue tiếp tục gia tăng trong những năm gần đây. Vào năm 2024, TCYTTG đã phân loại sốt xuất huyết Dengue là tình trạng khẩn cấp Cấp độ 3 là cấp độ khẩn cấp cao nhất của TCYTTG và thực hiện tiền thẩm định một loại vaccine Dengue mới. Các nỗ lực lập bản đồ dịch tễ cho bệnh Chikungunya đang tiến triển, mặc dù hoạt động báo cáo vẫn còn hạn chế. Các chiến lược và công cụ để chống lại căn bệnh này hiện đang được củng cố.
Số lượng ca bệnh sán dây Echinococcus được báo cáo trong năm 2023 đã tăng lên so với năm 2022. Tuy nhiên, tình trạng báo cáo thiếu vẫn là một thách thức đáng kể. Một số ít quốc gia đã bắt đầu triển khai các nỗ lực kiểm soát tăng cường.Hóa trị liệu dự phòng cho nhóm bệnh này chỉ được thực hiện ở một số ít quốc gia, với dữ liệu báo cáo ở mức tối thiểu. Trong năm 2024, Tổ chức Y tế Liên châu Mỹ (Pan American Health Organization - PAHO) đã ban hành các hướng dẫn vận hành nhằm loại trừ bệnh sán lá gan lớn ở người như một vấn đề sức khỏe cộng đồng tại khu vực Châu Mỹ.
Hình 5. Bệnh NTDs ảnh hưởng đến cơ quan da được coi là điểm trọng tâm năm 2026
Hình ảnh lâm sàng bệnh da NTDs. (a) Ghẻ cóc; (b) tổn thương sớm của bệnh phong;
(c) Bệnh phong, biến dạng chi tay và loét bàn chân do thần kinh ngoại vi; (d) viêm da mảng lớn mạn tính papular onchodermatitis; (e) giun chỉ bạch huyết; (f) loét Buruli;
(g) bệnh do leishmania thể da; (h) u nấm do Nocardia spp. (i) Leishmania sau Kala-azar; (j) Ghẻ; (k) Tungiasis.
Nguồn: WHO strategic framework for integrated control and management of skin-related NTDs
Trong những năm gần đây, số ca mắc Leishmaniaspp. thể ở da đã gia tăng, phần lớn do sự gián đoạn của hệ thống y tế tại khu vực Đông Địa Trung Hải. Tuy nhiên, việc cải thiện báo cáo tại Châu Mỹ đã cho thấy những tiến bộ trong phát hiện và quản lý ca bệnh ở nhiều quốc gia.Bệnh u nấm (mycetoma), nấm hạt (chromoblastomycosis), bệnh nấm paracoccidioidomycosis và bệnh nấm sporotrichosis tiếp tục nằm trong số những tình trạng bị lãng quên nhất. Sự hạn chế về thông tin vẫn cản trở việc đánh giá đầy đủ gánh nặng và sự phân bố của chúng, trong khi tiến độ đưa các bệnh này vào các chương trình y tế công cộng vẫn còn chậm.

Hình 6. Báo cáo nghiên cứu vê điều trị các bệnh NTDs ước tính năm 2023 và 2031
Nguồn: https://www.insightaceanalytic.com/report/NTDs treatment-market/2928

Nguồn: https://www.gminsights.com/industry-analysis/NTDs-treatment-market
Mặc dù gánh nặng thực sự của bệnh bệnh nhiễm trùng hoại tử mặt cực kỳ nguy hiểm, thường gặp ở trẻ em suy dinh dưỡng (còn gọi là cam tẩu mã hayNoma) phần lớn vẫn chưa được xác định, việc đưa bệnh này vào danh sách các bệnh NTDs vào tháng 12 năm 2023 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng. Kể từ đó, đã có những tiến bộ trong việc tích hợp bệnh Noma vào Lộ trình và bắt đầu triển khai thu thập dữ liệu.
Bệnh ghẻ và các bệnh do ngoại ký sinh trùng khác như bệnh do bọ chét cát (tungiasis) vẫn tiếp tục bị báo cáo thiếu. Tuy nhiên, một số quốc gia đã bắt đầu đưa các bệnh này vào kế hoạch phòng chống NTD hoặc các gói chăm sóc bao phủ y tế toàn dân, đồng thời triển khai các hoạt động phòng chống như điều trị dự phòng hàng loạt (MDA) bằng thuốc ivermectin.
Tình trạng nhiễm nọc độc do rắn cắn đã ghi nhận một số tiến bộ, bao gồm việc chỉ định đây là bệnh phải khai báo tại một số quốc gia, xây dựng hoặc cập nhật các hướng dẫn điều trị quốc gia và thăm dò tiềm năng sản xuất huyết thanh tại địa phương. Năm 2024, một khung giám sát và đánh giá đối với việc kiểm soát y tế công cộng bệnh sán dây và bệnh ấu trùng sán dây lợn (cysticercosis) đã được triển khai để hướng dẫn việc lập bản đồ và đánh giá tác động.Các bệnh NTDs tiếp tục chưa được nhận diện đúng mức do thiếu dữ liệu chất lượng cao, kịp thời và toàn diện. Nhiều bệnh rất khó chẩn đoán lâm sàng hoặc đòi hỏi các xét nghiệm chuyên biệt.
Hệ thống giám sát và báo cáo thường yếu kém và một số loại bệnh vốn từ lâu đã bị loại khỏi hệ thống thông tin y tế. Tại nhiều khu vực, bệnh nhân có xu hướng tìm đến các thầy thuốc dân gian hoặc các cơ sở không chính thức, làm giảm khả năng ghi nhận dữ liệu thực tế.Việc tăng cường giám sát, tích hợp các NTDs vào hệ thống thông tin y tế quốc gia thường quy và giảm bớt sự phân mảnh trong cơ chế báo cáo là những yếu tố thiết yếu để theo dõi chính xác tiến độ và hướng dẫn các can thiệp hiệu quả, bền vững.
Thực hiện hành động theo chương trình
Việc triển khai Lộ trình phòng chống NTDs đã đạt được những tiến bộ đáng kể trên nhiều phương diện trong năm 2024:
+ Đổi mới kỹ thuật: TCYYTđã khởi động quy trình xác định ưu tiên nghiên cứu và phát triển cho nhóm bệnh NTDs. Sáu công thức thuốc mới đã được TCYTTG tiền thẩm định, nâng tổng số thành phẩm dược phẩm chống lại NTDs trong danh mục tiền thẩm định của TCYTTG lên 20 sản phẩm. Một nguyên liệu dược chất (active pharmaceutical ingredient) cho miltefosine và một loại vaccine sốt xuất huyết Dengue mới cũng đã được công nhận tiền thẩm định;
+ Công tác xây dựng tiêu chuẩn: Khoảng 50 ấn phẩm của TCYTTG đã cập nhật các chương trình với những hướng dẫn mới nhất. Các tài liệu này bao gồm hai bộ hướng dẫn về bệnh ngủ Châu Phi ở người và bệnh giun lươn; Khung giám sát và đánh giá đối với bệnh sán máng và bệnh giun sán truyền qua đất; Khung chiến lược khu vực nhằm chấm dứt các bệnh nhiệt đới bị lãng quên (NTDs) tại Đông Nam Á; Khung chiến lược nhằm loại trừ bệnh do Leishmaniaspp. nội tạng tại Đông Phi và một bộ Hướng dẫn vận hành nhằm loại trừ bệnh sán lá gan ở người với tư cách là một vấn đề sức khỏe cộng đồng tại khu vực Châu Mỹ. Ngoài ra, sáu hồ sơ sản phẩm mục tiêu (TPPs) đã được công bố, năm hồ sơ về các kỹ thuật chẩn đoán và một hồ sơ về huyết thanh kháng nọc rắn, nâng tổng số TPPs của TCYTTG dành cho NTDs lên con số 27;
+ Hỗ trợ vận hành: Tính đến cuối năm 2024, có ít nhất 19 loại thuốc đã được 12 nhà sản xuất tài trợ để hỗ trợ các can thiệp NTDs. Trong giai đoạn 2011-2024, gần 30 tỷ đơn vị thuốc (viên nén và lọ thuốc) đã được chuyển đến các quốc gia, trong đó riêng năm 2024 là 1,8 tỷ đơn vị. Ủy ban Điều phối và Quản trị Toàn cầu đã được thành lập để quản lý hiệu quả nguồn thuốc tài trợ và giải quyết các thách thức về chuỗi cung ứng tại quốc gia. Một dự án thí điểm 5 năm về cơ chế hỗ trợ kỹ thuật chuỗi cung ứng đã được triển khai tại 8 nước ưu tiên ở Châu Phi;
+ Vận động chính sách và liên kết đối tác: Các bệnh NTDs tiếp tục nhận được sự quan tâm tại các diễn đàn toàn cầu như G7 và G20. Lời kêu gọi toàn cầu 2024 (Glocal appeal 2024) nhằm chấm dứt sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với những người bị ảnh hưởng bởi bệnh phong, do Quỹ Y tế Sasakawa triệu tập, đã được TCYTTG đăng cai tổ chức tại trụ sở chính ở Geneva;Hội nghị Quốc tế cấp cao về tiêu diệt bệnh giun rồng cũng đã được triệu tập tại Chad vào năm 2024;TCYTTG đã thiết lập các đối tác mới với Liên minh vaccine GAVI (về bệnh dại) và Quỹ Công nghệ đổi mới Y tế Toàn cầu (GHIT) nhằm thúc đẩy khả năng tiếp cận các loại thuốc, vaccine và chẩn đoán an toàn, giá cả phải chăng cho NTDs;
+ Nâng cao năng lực: Năm 2024, TCYTTG đã mở rộng các khóa học trực tuyến về NTDs với 33 sản phẩm mới thuộc 23 chủ đề kỹ thuật bằng 7 ngôn ngữ. Trong giai đoạn 2020-2024, tổng cộng 102 khóa học thuộc 37 chủ đề khác nhau đã được phát hành bằng 15 ngôn ngữ. Đặc biệt, đợt đánh giá thực địa đầu tiên của ứng dụng WHO Skin NTDs hỗ trợ bởi AI đã được thực hiện tại Kenya vào cuối năm 2024;
+ Các tiếp cận liên ngành: Những nỗ lực nhằm tăng cường sự tích hợp lẫn nhau của các dịch vụ phòng chống bệnh nhiệt đới bị lãng quên, thúc đẩy phối hợp đa ngành và tạo điều kiện lồng ghép vào hệ thống y tế quốc gia đã tiếp tục được duy trì. Hoạt động này được triển khai đặc biệt thông qua các sáng kiến về loại trừ đa bệnh và nâng cao hiệu quả của các chiến dịch y tế.Việc phòng chống và quản lý tích hợp các bệnh NTDs biểu hiện ở da là minh chứng cho sự chuyển dịch này, hướng tới các mô hình cung ứng dịch vụ lấy người dân làm trung tâm và tăng cường chăm sóc sức khỏe ban đầu.Song song với đó, công tác tạo điều kiện lồng ghép dữ liệu về NTDs vào hệ thống thông tin quản lý y tế quốc gia đã đạt được những tiến triển đáng kể, nằm trong khuôn khổ sáng kiến bộ công cụ Hệ thống Thông tin Y tế thường quy (RHIS) của TCYTTG. Nhiều biện pháp cũng đã được thực hiện nhằm tinh gọn và hài hòa hóa các phương thức thu thập dữ liệu NTDs, bao gồm việc tối ưu hóa các quy trình, nền tảng công nghệ và biểu mẫu báo cáo;
+ Biến đổi khí hậu: Nhằm ứng phó với các rủi ro liên quan đến khí hậu, nhóm công tác của TCYTTG về Biến đổi khí hậu, bệnh NTDs và sốt rét đã thực hiện một báo cáo rà soát phạm vi (scoping review) toàn diện về mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu, sốt rét và các bệnh NTDs. Báo cáo đã chỉ ra những lỗ hổng trong việc hiểu rõ tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đối với các bệnh NTDs, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết phải thực hiện thêm các nghiên cứu khoa học chuyên sâu. Bên cạnh đó, TCYTTG cũng đã ban hành kế hoạch chuẩn bị và ứng phó toàn cầu đối với bệnh sốt xuất huyết Dengue và các bệnh do virus khác truyền qua trung gian là muỗi thuộc giốngAedes. Kế hoạch này cung cấp một mô hình chuẩn mực trong việc quản lý các bệnh lý nhạy cảm với yếu tố khí hậu thông qua các hành động phối hợp liên ngành;
+ Giám sát hiệu quả thực hiện: Một cuộc đánh giá định tính về tiến trình hướng tới các mục tiêu đề ra trong lộ trình đã được thực hiện bằng phương pháp luận GAT; Các kết quả nghiên cứu đã xác định các nhu cầu và ưu tiên chính trong 4 trên 11 khía cạnh của lộ trình, bao gồm chẩn đoán, giám sát và đánh giá, tiếp cận và hậu cần và vận động chính sách và tài trợ, bao quát cả các lĩnh vực chuyên biệt theo từng bệnh lý và các lĩnh vực mang tính liên ngành;
+ Giới tính, công bằng và quyền con người (GER): Các hoạt động vận động dựa trên quyền lợi đã nhận được sự thúc đẩy mạnh mẽ tại Đại hội đồng Y tế Thế giới, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và Đại hội đồng Liên hợp quốc, tập trung vào vấn đề an toàn hóa chất diệt côn trùng trong bối cảnh sức khỏe của các dân tộc bản địa và tình trạng phân biệt đối xử đối với những người mắc bệnh phong cùng các thành viên trong gia đình họ. Tổ chức Y tế Thế giới đã vận động cho việc mở rộng phương pháp tiếp cận GER đối với tất cả bệnh NTDs.
Xu hướng bền vững và tài chính
Tính đến năm 2024, có 14 quốc gia Châu Phi đã xây dựng các kế hoạch Quốc gia bền vững thông qua quy trình do chính phủ dẫn dắt và có sự hỗ trợ từ các đối tác. Các kế hoạch này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nỗ lực ở cấp quốc gia nhằm củng cố kỹ năng, tăng cường năng lực và huy động nguồn lực để cung cấp các dịch vụ NTDs một cách bền vững, nâng cao nhận diện của các bệnh NTDs ở cấp độ nội địa và thúc đẩy hợp tác đa ngành.
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) dành cho các bệnh NTDs đã giảm 41% trong giai đoạn 2018-2023, đặc biệt là trong đại dịch COVID-19, phản ánh sự thu hẹp của không gian tài chính. Thực trạng này càng củng cố nhu cầu về việc xác định ưu tiên, huy động các nguồn lực trong nước và tập trung chiến lược vào các can thiệp có tác động cao.
Hình 8. Xu hướng bền vững tài chính và thị trường điều tri NTDs là cần thiết
Tầm nhìn tương lai
Mặc dù các chương trình NTDs tiếp tục đạt được tiến bộ trong giai đoạn 2023-2024, nhưng hiệu quả vẫn không đồng đều giữa các nhóm bệnh và các lĩnh vực. Biến đổi khí hậu tiếp tục mở rộng phạm vi lưu hành của các bệnh NTDs truyền qua vector sang những khu vực mới. Các cuộc xung đột địa chính trị, tình trạng di cư, cuộc khủng hoảng nhân đạo và sự mất ổn định đã gây gián đoạn khả năng tiếp cận các can thiệp và dịch vụ phòng chống NTDs. Những lỗ hổng dữ liệu kéo dài và hệ thống giám sát yếu kém làm suy giảm hiệu quả của việc lập kế hoạch chiến lược và quản lý chương trình thường quy. Đáng chú ý, nếu không có các cơ chế tài chính nhằm trao quyền làm chủ cho nước và thu hút sự tham gia của cộng đồng bị ảnh hưởng, sẽ có nguy cơ thực tế về sự trì trệ, hoặc thậm chí là đảo ngược của những thành quả vất vả mới đạt được.
Giai đoạn 5 năm tới hướng tới năm 2030 có khả năng sẽ bộc lộ những sự tương phản rõ rệt hơn giữa các thách thức nêu trên và nhu cầu duy trì đà phát triển khi các quốc gia tiến gần hơn đến các mục tiêu loại trừ và tiêu diệt. Để đạt được các mục tiêu của Lộ trình vào năm 2030, các chương trình phải duy trì sự tập trung cao độ, ưu tiên hành động then chốt và tận dụng tối đa các cơ hội tích hợp và đổi mới. Việc lập kế hoạch chiến lược cho giai đoạn 2025-2030 sẽ là các yếu tố thiết yếu để vượt qua các cuộc khủng hoảng của hệ thống y tế, củng cố tiến độ, duy trì thành quả và hiện thực hóa đầy đủ các tham vọng của Lộ trình.
(Hết)
CN. Nguyễn Thái Hoàng & TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn