Giới thiệu về TI-RAD
TI-RADS là một cụm từ viết tắt của Thyroid Imaging Reporting and Data System ra đời thuật ngữ này do trường phái hình ảnh học (American College of Radiology) của Mỹ khởi xướng, đây là một hệ thống dữ liệu và báo cáo hình ảnh tuyến giáp, giúp phân loại nguy cơ ác tính của các nhân giáp hay nốt tuyến giáp (thyroid nodules) thường siêu âm thấy các nốt trong nhu mô tuyến giáp ở người dựa vào hình ảnh khi thực hành siêu âm. Gần đây, tại các cơ sở y tế nói chung và cơ sở chuyên khoa nội tiết nói riêng gặp rất nhiều bệnh nhân mang đến kết quả siêu âm khi họ đi khám bệnh lý tuyến giáp có kết luận trong tờ giấy kết quả siêu âm rằng “TIRADS-1”, “TIRADS-2”, “TIRADS-3” hay “TIRADS-4” và rất lo lắng, không biết mình hay người thân của mình đang mắc bệnh lành hay dữ đây! Trong số đó, có nhiều bệnh nhân hay thân nhân đặt câu hỏi thăm dò với bác sỹ siêu âm hay của bác sỹ đang khám bệnh cho họ “Kết quả siêu âm ghi “TIRAD-3 hayTI-RADS 4, có phải tôi/ người thân tôi đang bị ung thư tuyến giáp không? và tiên lượng thế nào bác sỹ làm ơn cho tôi biết”.
Vì hiện nay tình trạng và tình huống này khá phổ biến và hay gặp ở các cơ sở điều trị, và cũng là một trong các nguyên do đã khiến nhiều người lo lắng, thậm chí nghĩ không hay về số mệnh khi cầm kết quả siêu âm tuyến giáp trên tay. Nhằm làm rõ hơn chữ TI-RADS là gì? các con số chữ số đó nói lên điều gì? Cần làm tiếp theo là gì để xác định chẩn đoán và cách theo dõi thế nào? Xin chia sẻ một số thông tin tổng quát như sau:
TI-RADS là một cụm từ viết tắt của Thyroid Imaging Reporting and Data System, có nghĩa là Hệ thống dữ liệu và báo cáo hình ảnh học của tuyến giáp trên siêu âm - Đây cũng là hệ thống phân loại nguy cơ ác tính của các nhân giáp dựa trên hình ảnh siêu âm. TI-RADS không có nghĩa à chẩn đoán ung thư tuyến giáp, không mang tính chất quy kết hay kết luận chẩn đoán bệnh ngay.Các thông tin về TI-RADS sẽ giúp các bác sĩ quyết định có cần chọc hút tế bào ngay hay chỉ là giai đoạn theo dõi tiếp theo. Ngoài ra, thông số TI-RADS giúp chuẩn hóa đánh giá, giảm độ các sai lệch và tránh những can thiệp hay thủ thuật ngoại khoa không cần thiết như chọc hút, sinh thiết kim, mổ cắt bỏ bán phần hay toàn phần.
Phân độ TI-RAD tuyến giáp
Về mặt đánh giá, TI-RADS sẽ được chấm điểm dựa vào đánh giá các nhân giáp dựa trên 5 yếu tố chính sau: (i) Thành phần và đặc điểm của nhân có đặc hoàn toàn, hỗn hợp hay dạng nang? (ii) Độ hồi âm của nhân giáp sáng hay tối so với mô giáp xung quanh? (iii) Hình dạng nhân giáp có chiều cao lớn hơn chiều rộng không? (iv) Bờ viền rõ ràng, hay không rõ ràng, bờ không đều hay nham nhở; (v) Vôi hóa nhân giáp có hay không, dạng gì?Mỗi đặc điểm được cho điểm và tính tổng điểm sẽ quy vào một mức TI-RADS từ TI-RADS1 đến TIRADS-5.
TI-RADS 1:Tuyến giáp bình thường
Tuyến giáp không có nhân giáp, nên không cần lo lắng và không cần theo dõi đặc biệt.
TI-RADS 2:Nhân giáp lành tính
Đặc điểm điển hình là không phải ung thư, biểu hiện các nhân dạng nang đơn thuần, hoặc nhân giáp có viền "bánh xe", nguy cơ ác tính gần như 0%, không cần chọc hút hay sinh thiết kim kim nhỏ (Fine Needle Aspiration-FNA), không cần mổ và theo dõi.
TI-RADS 3:Nguy cơ ác tính thấp < 5%
Nhân giáp có vài đặc điểm hơi bất thường, nhưng đa phần là lành tính, chẳng hạn nhân đặc, ranh giới đều, không vôi hóa. Bác sỹ lâm sàng thường đưa ra lời khuyên nên theo dõi định kỳ bằng siêu âm tuyến giáp; Theo dõi nếu kích thước > 1,5 cm, chỉ cân nhắc chọc hút hay sinh thiết kim nhỏ FNA nếu nhân có kích thước > 2,5 cm hoặc có thay đổi bất thường theo thời gian. Chẳng hạn, khi nhân giáp TI-RADS 3 giống như một nốt ruồi hơi lạ, nhưng chưa có gì nguy hiểm.
TI-RADS 4:Nguy cơ ác tính trung bình, khoảng 5-20%, đây là kết quả hay gặp khi các bác sỹ siêu âm kết luận và cũng là mức mà bệnh nhân và thân nhân người bệnh hay lo lắng nhất mà chúng ta hay thấy trong thực hành lâm sàng, nhưng bệnh nhân cần lưu ý và bình tĩnh rằng TI-RADS không nhất thiết là đang bị ung thư rồi mà đây chỉ ra nhân giáp có một vài dấu hiệu gợi ý ác tính cần lưu ý thêm và nên làm thêm các bước tiếp theo do bác sỹ chỉ định như bác sĩ sẽ đánh giá thêm các yếu tố về kích thước nhân giáp, tốc độ phát triển, tuổi, giới tính và tiền sử gia đình của bệnh nhân cũng như tiền sử đã từng xạ trị cở vùng cổ.
Hình 1. Phân độ TI-RADS và tính điểm, các định hướng cận lâm sàng.
Nguồn tham khảo: https://radiologyassistant.nl/head-neck/ti-rads/ti-rads
Trong phân loại này, TI-RADS 4 được chia thành 3 phân loại gồm: TI-RADS 4a(nguy cơ ác tính thấp), TI-RADS-4b(nguy cơ ác tính trung bình) và TI-RADS-4c (nguy cơ ác tính cao hơn).
Mặc dù từ trước đến nay có nhiều bảng phân loại của các tổ chức khác nhau như Korean TI-RADS 2016, ACR TI-RADS 2017 và EU TI-RADS 2017 và bổ sung cải tiến năm 2019, tuy nhiên hiện nay, trong thực hành lâm sàng, người ta áp dụng bảng phân loại theo tiêu chuẩn phổ biến nhất hiện nay của Trường Hình anh Mỹ (American College Radiology-TI-RADS):
| Phân loại | Mức độ nguy cơ | Tỷ lệ ác tính dự đoán | Hướng xử lý khuyến cáo |
| TI-RADS 1 | Lành tính | Gần như 0% | Không cần theo dõi thêm. |
| TI-RADS 2 | Không nghi ngờ | Gần như 0% | Nhân lành tính, không cần chọc hút tế bào (FNA). |
| TI-RADS 3 | Nghi ngờ thấp | ~1,7% - 5% | Theo dõi định kỳ; chỉ định FNA nếu kích thước ≥2,5 cm. |
| TI-RADS 4 | Nghi ngờ trung bình | 5% - 20% | Cần theo dõi sát; chỉ định FNA nếu kích thước ≥1,5 cm. |
| TI-RADS 5 | Nghi ngờ cao | > 80% - 96% | Khả năng cao là ung thư; chỉ định FNA ngay nếu kích thước ≥1 cm. |
Khi bác sỹ lâm sàng nghi ngờ, thì bác sỹ thường hay chỉđịnh chọc hút tế bào (FNA) hoặc sinh thiết kim nhỏ, thậm chíđề nghị mổ sinh thiết u tuyến giáp để làm rõ chẩn đoán và xem mức độ tế bào ác tínhđể xác định rõ bản chất càng sớm càng tốt. Điều may mắn là nhiều bệnh nhân biểu hiện TI-RADS4 nhưng theo dõi nhiều năm không thấy tiến triển độ ác tính và thời gian sống bình thường.
TI-RADS 5: Nguy cơ ác tính cao > 20%, nhân giáp có nhiều đặc điểm nghi ngờ, bờ không ddeuf, nham nhở, vôi hóa vi thể, chiều cao lớn hơn chiều ngang, vì nguy cơ ung thư tuyến giáp cao, ên bác sỹ lâm sàng thường chỉ định chọc hút tế bào, sinh thiết kim nhỏ (FNA), đánh giá kỹ để quyết định phẩu thuật hay điều trị cần dựa vào thăm khám trên lâm sàng bởi các bác sỹ có kinh nghiệm về nội tiết hay un thư; có thể làm snh thiết ngay trong quá trình phẩu thuật và rất cần khâu đánh giá tổn thương tong mổ của phẩu thuật viên có kinh nghiệm.
Với mức độ TI-RADS 4 và TI-RADS 5, bệnh nhân nên bình tĩnh để theo dõi và áp dụng các phác đồ hợp lý vì hầu hết các ung thư tuyến giáp tiến triển rất chậm, thời gian sống của bệnh nhân ung thư tuyến giáp trên 5 năm thường là trên 95%.
Phân loại TIRADS và ước tính mức độ ác tính đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đánh giá, dưới đây là một ví dụ để thấy được đánh giá mức độ ác tính của tuyến giáp cần phải dựa trên nhiều yếu tố chứ không đơn thuần là kết quả siêu âm duy nhất!
Hình 2. Phân độ TI-RADS và tính nguy cơ các tính của EU-TIRADS
Hình 3. Phân độ AI TI-RADS dựa trên các dẫn liệu trí tuệ nhân tạo
Cập nhật điểm mới với bảng đánh giá phân loại theo AI TI-RADS 2019
AI TI-RADS (Hệ thống dữ liệu và báo cáo hình ảnh tuyến giáp dựa trên trí tuệ nhân tạo) là một phân tích dựa trên dữ liệu và sửa đổi của phiên bản ACR TI-RADS 2017. Hệ thống phân loại AI TI-RADS 2019 này dựa trên nghiên cứu 1425 nhân tuyến giáp từ năm 2006-2010 tại 3 trung tâm y tế thuộc Canada, Mỹ và Anh với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo. Bảng phân loại mới có độ nhạy giống bản 2017 (93,3%) nhưng độ đặc hiệu cao hơn (64,7% so với 47,1%).Các thay đổi so với ACR TI-RADS:
*Thành phần
- Một nốt dạng nang hay dạng bọt biển thì đủ để kết luận lành tình dù có thêm tính chất nào khác.
- Nang hỗn hợp nhận 0 điểm thay vì 1 điểm.
- Nốt đặc hoặc gần đặc nhận 3 điểm thay vì 2 điểm.
*Cấu trúc âm hay tính chất hồi âm
- Đồng âm hoặc tăng âm nhận 0 điểm thay vì 1 điểm.
* Hình dáng
- Cao lớn hơn rộng nhận 1 điểm thay vì 3 điểm.
* Đường bờ
- Không thay đổi.
* Vôi hoá:
- Vôi hóa lớn nhận 0 điểm thay vì 1 điểm.
Tác giả: TS.BS. Huỳnh Hồng Quang
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn