Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, thiết kế thích ứng pha 2/3 về tính an toàn và hiệu lực của viên nén phối hợp liều cố định albendazole-ivermectin dùng một liều duy nhất hoặc dùng trong ba ngày so với albendazole trong điều trị nhiễm giun tóc và các bệnh giun sán truyền qua đất khác (Đề cương thử nghiệm ALIVE)
Các bệnh giun truyền qua đất là mục tiêu cần được kiểm soát thông qua các chiến dịch cấp thuốc hàng loạt nhằm phòng ngừa tỷ lệ mắc bệnh cho các nhóm nguy cơ cao tại các vùng lưu hành. Mặc dù đã đạt được thành công trên diện rộng, việc sử dụng albendazole và mebendazole cho thấy hiệu lực không đồng nhất, với những hạn chế trong việc điều trị giun tóc T.trichiura và hiệu lực thấp đã được dự báo trước đối với giun lươn S.stercoralis. Các phác đồ phối hợp thuốc mới mang lại một giải pháp tiềm năng, với điều kiện chúng phải đảm bảo an toàn và duy trì hiệu lực chống lại tất cả các loài giun truyền qua đất. Đề cương của một TNLS nhằm đánh giá viên nén phối hợp liều cố định chứa albendazole và ivermectin so với albendazole trong điều trị các bệnh giun sán truyền qua đất.
TNLS ngẫu nhiên có đối chứng, thiết kế thích ứng pha 2/3 sẽ được thực hiện tại các địa điểm lưu hành bệnh giun truyền qua đất ở Ethiopia, Kenya và Mozambique nhằm đánh giá viên FDC đường uống chứa 400 mg albendazole và 9 mg hoặc 18 mg ivermectin. Viên FDC sẽ được cấp dưới dạng một liều duy nhất hoặc các liều duy nhất trong ba ngày liên tiếp và được so sánh với một liều duy nhất 400 mg albendazole. Trong thử nghiệm pha 2, có 126 trẻ em nhiễm giun tóc T.trichiura có cân nặng từ 15-45 kg sẽ được điều trị theo phương pháp tăng dần liều để xác định các mục tiêu về tính an toàn.
Trong thử nghiệm pha 3, có 1097 người tham gia từ 5-18 tuổi bị nhiễm giun tóc T.trichiura, giun móc và giun lươn S.stercoralis sẽ được tuyển chọn để xác định tính an toàn và hiệu lực. Thử nghiệm sẽ được tiến hành theo hình thức nhãn mở với các đánh giá viên kết quả không được cho biết họ đang đánh giá nhóm nào. Tỷ lệ khỏi bệnh được tính toán sau 21 ngày điều trị bằng kỹ thuật soi phân Kato-Katz kép là tiêu chí đánh giá hiệu lực chính. Các mục tiêu thứ cấp bao gồm đánh giá hiệu lực bằng phương pháp PCR định lượng, mô tả các thông số dược lực học, đánh giá về mức độ dễ uống và khả năng chấp nhận thuốc, cũng như theo dõi tình trạng kháng thuốc giun sán.Thử nghiệm này với các mục tiêu đăng ký thuốc, nhằm đánh giá một sản phẩm viên nén phối hợp liều cố định cải tiến của albendazole và ivermectin, với mục tiêu cung cấp một phác đồ điều trị giun sán có hiệu lực và phổ tác dụng được cải thiện đối với các bệnh giun sán truyền qua đất.
Viên nén mới hứa hẹn trong việc phòng chống và loại trừ các bệnh giun đường ruột
Phối hợp thuốc Ivermectin/Albendazole dạng FDC được dùng để sử dụng bên ngoài EU, công bố lần đầu ngày 18/03/2025 với tên gọi bản kế hoạch là “IVM/ALB: Kế hoạch Quản lý nguy cơ (Ivermectin/Albendazole: Risk management plan).
Thử nghiệm lâm sàng ALIVE cho thấy viên nén phối hợp albendazole và ivermectin an toàn và hiệu quả hơn so với albendazole đơn thuần trong điều trị nhóm giun truyền qua đất. Một viên nén mới phối hợp albendazole và ivermectin cho thấy an toàn và hiệu quả hơn so với albendazole đơn thuần trong điều trị giun tóc T.trichiura và các loại giun truyền qua đất khác, theo một thử nghiệm lâm sàng do Hiệp hội STOP thực hiện và được dẫn dắt bởi Viện Sức khỏe Toàn cầu Barcelona (ISGlobal), một trung tâm được hỗ trợ bởi Quỹ “la Caixa”. Các kết quả nàyđã được công bố trên tạp chí The Lancet Infectious Diseases, mở ra cơ hội cải thiện việc phòng chống các bệnh nhiệt đới bị lãng quên vốn ảnh hưởng đến khoảng 1,5 tỷ người trên toàn thế giới.
Các bệnh giun truyền qua đất do bốn loài giun ký sinh gây ra (giun đũa Ascarislumbricoides, giun tóc Trichuristrichiura và giun móc, mỏ(Ancylostomaduodenale và Necatoramericanus) lây truyền qua tiếp xúc với đất hoặc nước bị ô nhiễm. Chúng có tác động đáng kể đến dinh dưỡng và sức khỏe, đặc biệt ở trẻ em và phụ nữ trong độ tuổi sinh sản sống tại các vùng lưu hành bệnh ở Châu Mỹ Latinh, Châu Á và cận Sahara Châu Phi.Chiến lược phòng chốngcác bệnh giun truyền qua đất hiện tại dựa vào việc điều trị tẩy giun định kỳ bằng albendazole cho các nhóm dân có nguy cơ cao, cùng với việc cải thiện nguồn nước, vệ sinh và môi trường. Albendazole có hiệu lực cao đối với giun đũa nhưng hiệu lực của nó đối với giun tóc T.trichiura đang giảm dần, có thể do sự xuất hiện của tình trạng kháng thuốc. Ngoài ra, albendazole không có hiệu quả đối với giun lươn Strongyloidesstercoralisở liều khuyến cáo hiện nay tại một số vùng, một loại giun khác đã được thêm vào danh sách các ký sinh trùng đường ruột cần có biện pháp kiểm soát.
Hai loại thuốc trong một viên nén
Để giải quyết những hạn chế này, Hiệp hội STOP do EDCTP tài trợ đã thử nghiệm một viên nén cải tiến kết hợp liều cố định của albendazole và ivermectin. Ivermectin đã được chứng minh là hiệu quả hơn đối với T. trichiura khi kết hợp với albendazole và là thuốc được lựa chọn để điều trị giun lươn S. stercoralis và các bệnh nhiễm ký sinh trùng khác.Viên phối hợp liều cố định (FDC) này có nhiều ưu điểm: Nó dễ dàng cấp phát vì chỉ là một viên duy nhất và không cần điều chỉnh liều lượng dựa trên cân nặng của trẻ - Trưởng Dự án Jose Muñoz, nhà nghiên cứu của ISGlobal và là Trưởng Khoa Y tế Quốc tế tại Bệnh viện Clinic Barcelona giải thích, hy vọng rằng việc kết hợp hai loại thuốc với cơ chế tác động khác nhau sẽ làm giảm nguy cơ ký sinh trùng phát triển tình trạng kháng thuốc.
Một thử nghiệm lâm sàng tại ba quốc gia châu Phi
Thử nghiệm lâm sàng ALIVE được tiến hành tại Ethiopia, Kenya và Mozambique đã kiểm tra tính an toàn và hiệu lực của FDC ở trẻ em trong độ tuổi đi học (từ 5 đến 18 tuổi) bị nhiễm giun tóc T.trichiura, giun móc, giun lươn S.stercoralis hoặc nhiễm phối hợp các loại giun tròn trên. Các em được phân ngẫu nhiên vào 03 nhóm điều trị: Nhóm 1 nhận một liều albendazole duy nhất; Nhóm 2 nhận một liều FDC (FDCx1) và nhóm 3 nhận ba liều FDC (FDCx3) trong ba ngày liên tiếp. Giai đoạn 2 của thử nghiệm tập trung vào tính an toàn, một số lượng nhỏ người tham gia đã được tuyển chọn và điều trị tuần tự theo cân nặng, để theo dõi bất kỳ tác dụng không mong muốn nào gây ra bởi liều ivermectin cao hơn bình thường (trên 200 µg/ml). Không có tác dụng không mong muốn nghiêm trọng nào được ghi nhận và các tác dụng phụ tương tự như ở nhóm dùng albendazole. Điều này cho phép thử nghiệm chuyển sang giai đoạn 3, nơi hiệu lực được đánh giá trên một số lượng người tham gia lớn hơn, cùng với việc tiếp tục theo dõi tính an toàn.
Tổng cộng, 4.353 trẻ em đã được sàng lọc nhiễm giun truyền qua đất và 1001 em được phân ngẫu nhiên để điều trị. Trong số những em bị nhiễm, 63% dương tính với giun tóc T.trichiura, 36% với giun móc và 10% nhiễm với giun lươn S.stercoralis.Hiệu lực điều trị được đánh giá dựa trên tỷ lệ khỏi bệnh (không còn trứng trong mẫu phân sau điều trị) và sự suy giảm số lượng trứng trong phân so với trước khi điều trị. Đối với T.trichiura, FDC đạt được tỷ lệ khỏi bệnh cao hơn ở cả hai phác đồ (97% đối với FDCx3, 83% đối với FDCx1) so với albendazole đơn thuần (36%). Đối với giun móc, phác đồ FDCx3 cho thấy tỷ lệ khỏi bệnh cao hơn (95%), trong khi phác đồ FDCx1 tương tự như albendazole (lần lượt là 79% và 65%). Đối với S.stercoralis, cỡ mẫu quá nhỏ để đánh giá hiệu lực, nhưng các bằng chứng hiện có cho thấy FDC cũng sẽ hiệu quả hơn, vì ivermectin hiệu quả hơn nhiều so với albendazole đối với ký sinh trùng này.Mặc dù hầu hết các trường hợp nhiễm đều được phân loại là nhiễm nhẹ, cả hai phác đồ FDC đều đạt được tỷ lệ giảm trứng cao hơn so với albendazole đơn thuần.
Ý nghĩa đối với sức khỏe cộng đồng
Đây là một thử nghiệm mang tính bước ngoặt, mở ra khả năng kiểm soát tất cả các loài ký sinh trùng lây truyền qua đất, bao gồm cả giun lươn và có thể dẫn đến việc xem xét lại các mục tiêu loại trừ vốn được cho là không thể đạt được chỉ với albendazole - Alejandro Krolewiecki, Trưởng nhóm thử nghiệm lâm sàng cho biết như vậy. Bước tiếp theo là tiến hành các nghiên cứu quy mô lớn hơn, chẳng hạn như thử nghiệm đang diễn ra do STOP2030 dẫn dắt, để đánh giá sâu hơn về tính an toàn của FDC trong bối cảnh các chiến dịch tẩy giun hàng loạt.
Việc xác định các chiến lược triển khai tối ưu cũng sẽ rất cần thiết nếu FDC được các chương trình Quốc gia áp dụng. Kết quả thử nghiệm cho thấy phác đồ một liều duy nhất của FDC có thể đơn giản để áp dụng trong các hoạt động tẩy giun hàng loạt, trong khi phác đồ ba ngày với hiệu lực vượt trội, có thể phù hợp hơn cho các quyết định điều trị cá nhân, hoặc cho các chương trình nhằm mục tiêu loại trừ hoàn toàn nhóm giun truyền qua đất khỏi cộng đồng.
Với công thức thuốc phối hợp thân thiện với trẻ em, các viên nén phân tán trong ruộttheo đường uống và có hương xoài cùng với khả năng chấp nhận cao, viên thuốc này có tiềm năng lớn trong việc thúc đẩy các kết quả nâng tàm sức khỏe ở những khu vực bị ảnh hưởng bởi các bệnh này - TS. Stella Kepha, nhà nghiên cứu từ Viện Nghiên cứu Y học Kenya cho biết.
Ngoài ra, Rafael Caetano da Silva Santana và cộng sự (2023) đã nghiên cứu phối hợp thuốc albendazole- Ivermectin trong điều tị bệnh lý ấu trùng sán dây lợn cho thấy có tác dụng giảm viêm trên điều kiện thực nghiệm. Ấu trùng sán dây lợn thể thần kinh (ATSDLTK) là một vấn đề y tế công cộng tại các vùng lưu hành, bệnh có thể phòng được, đặc biệt cần ngăn ngừa để tránh các bệnh lý trên thần kinh. Bệnh gây ra có sự hiện diện nang sánTaenia solium trong hệ thần kinh trung ương. Liệu pháp điều trị hiện tại được thực hiện gồm các thuốc chống giun sán albendazole (ABZ) hay praziquantel (PZQ) liên quan đến chống viêm và corticosteroid để phòng ngừa các tác động có hại của phản ứng viêm do khi ký sinh trùng chết.Thuốc Ivermectin (IVM) là một chống giun sán có tác dụng thêm hiệu ứng chống viêm.Qua nghiên cứu họ đã đánh giá các khía cạnh mô bệnh học của bệnh lý ATSDLTK trên điều kiện điều trị thực nghiệm in vivo khi phối hợp ABZ-IVM. Chuột Balb/c được gây nhiễm thực nghiệm vào trong não bằng nang ấu trùng sán T. crassiceps sau 30 ngày nhiễm, được điều trị một liều đơn NaCl 0,9% (Nhóm chứng), ABZ đơn trị liệu (40 mg/kg), IVM đơn trị liệu (0,2 mg/kg) hay phác đồ phối hợp ABZ-IVM. Sau 24 giờ điều trị trên các con vật vị chết và não chúng được lấy ra để phân tích mô bệnh học. Liệu pháp đơn trị liệu IVM và liệu pháp phối hợp ABZ-IVM biểu hiện phá hủy nang sán, thâm nhiễm viêm ít hơn, viêm màng não và tăng huyết áp ít hơn các nhóm khác. Do đó, có thể khuyến cáo dùng thuốc phối hợp ABZ/IVM như một liệu pháp thay thế trong điều trị bệnh ATSDLTK do hiệu quả kháng viêm và kháng ký sinh trùng của thuốc này, tiềm năng là giảm hiệu ứng xấu do viêm sau khi ký sinh trùng bị giết bên trong hệ TKTU.
Chụp ảnh hiển vi (photomicrograph) các não chuột BALB/c đã bị gây nhiễm ấu trùng sán Taenia crassiceps 30 ngày nhiễm. Nhóm chứng được điều trị bằng nước muối sinh lý 0,9% cho thấy nang sán bị thương tổn rất nhỏ bên trong cấu trúc vi vỏ (mũi tên), tương tác giữa vật chủ-ký sinh trùng với sự vắng mặt thâm nhiễm viêm (đầu mũi tên); biểu hiện các nang sán bảo tồn; nhóm được điều trị bằng phối hợp ABZ/IVMbiểu hiện nang sán bị thoái triển (mũi tên) với tổn thương cấu trúc vi vỏ sán và cấu trúc bên trong, tương tác ký sinh trùng - vật chủ với thâm nhiễm viêm mức độ trung bình xung quanh nang sán (đầu mũi tên). Bệnh ATSDLTK là một nhiễm ký sinh trùng bị lãng quên và là một vấn đề y tế công cộng quan trọng do tỷ lệ mắc cao ở các vùng lưu hành. ATSDLTK do nang sán Taenia solium trong hệ TKTU (Carpio và cs., 2021) với ước tính liên quankhoảng 30% số ca động kinh và được coi là một nguyên nhân chính có thể phòng bệnh được gây ra bệnh ở TKTU. Độ trầm trọng của ATSDLTK liên quan trực tiếp số lượng, vị trí và gánh nặng số nang sán bên trong hệ TKTU, đáp ứng vật chủ và phản ứng viêm trên vật chủ (Toledo và cs., 2018; WHO 2021; Ta và Blond 2022).
Một khi ấu trùng có mặt trên hệ TKTU, nó sinh ra một đáp ứng điều hòa miễn dịch (immunomodulatory response) mà trong đó ức chế phản ứng viêm để duy trì khả năng sống sót của ký sinh trùng (Prodjinotho và cs., 2020). Do vậy, khi nang sán bắt đầu thoái triển và chết, điêu hòa miễn dịch bị gián đoạn sinh đáp ứng viêm liên quan đến các triệu chứng nghiêm trọng của bệnh lý ATSDLTK như động kinh và viêm não (Prodjinotho và cs., 2020; WHO, 2021). Do đó, điều trị bệnh ATSDLTK nên quản lý cẩn thận để tránh hậu quả viêm không tốt trong hệTKTU (WHO 2021).Điều trị viêm quanh ATSDLTK là một con dao hai lưỡi (double-edged sword)vì nó cần thiết để phá hủy nang sán, tuy nhiên phải tránh sao để các biến chứng thần kinh nghiêm trọng.Việc sử dụng corticosteroid có thể được coi là một khía cạnh có lợi cho sự sống sót của ký sinh trùng vì thuốc này kích thích điều hòa T-cell và sinh yếu tố phát triển khối u TGF-β, làm tăng khả năng sống sót của ký sinh trùng và đề kháng các thuốc chống ký sinh trùng (Toledo và cs., 2018).

Hình 5. Sự thay đổi về mặt mô bệnh học trên nhóm chứng và nhóm dùng phối hợp albendazole-ivermectin |
Nguồn: www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0014489423001091,
Albendazole/Ivermectin combination decreases inflammation in experimental neurocysticercosis 2023
Mặc dù có nhiều loại thuốc giun sán khác nhau trên thị trường để điều trị ATSDLTK dựa trên các nhóm đơn trị liệu albendazole hay praziquantel hay phối hợp trong một liệu trình dài từ 10-14 ngày.Bệnh nhân nên được giám sát điều trị về độc tính trên gan và giảm bạch cầu có hay không (White và cs., 2018; Monk và cs., 2021). Dù các thuốc này có hiệu quả trên bệnh ATSDLTK song lại có ít lựa chọn thuốc thay thế và hiệu quả của nó lệ thuộc vào vị trí của nang sán, gánh nặng ký sinh trùng và giai đoạn tiến triển (Toledo và cs., 2018). Ngoài ra, một số báo cáo về kháng thuốc và bệnh nhân không dung nạp thuốc này dẫn đến dùng thuốc thay thế (Mohanty và cs., 2017; WHO, 2021). Các thuốc khác đã được thử nghiệm để xác định hiệu quả trên mô bị sán ký sinh, trên cả mô hình thực nghiệm như thuốc nitazoxanide đơn thuần phối hợp với albendazole (Sampaio và cs., 2020), oxfendazole (Correia và cs., 2022), praziquantel-mebendazole phối hợp (Francisca và cs., 2020), dung dịch nano praziquantel (Silva và cs., 2018).
Albendazole (ABZ) là một dẫn suất benzimidazole có hoạt tính chống lại ký sinh trùng phổ rộng và chịu trách nhiệm theo cơ chế gây suy yếu quá trình tổng hợp vi ống bào tương (cytoplasmic microtubules polymerization), ức chế sự dự trữ glucose và ảnh hưởng lên con đường chuyển hóa ký sinh trùng, dẫn đến mất năng lượng và ký sinh trùng chết (Lacey và cs., 1990; Vinaud và Ambrosio, 2020; Malik và Dua, 2022). Điều trị bệnh ATSDLTK bằng albendazole đơn thuần có thể dẫn đến bệnh nhân xuất hiện một số phản ứng phụ, triệu chứng thần kinh khu trú, động kinh, nhức đầu, dấu màng não và tăng áp lực sọ não do hậu quả viêm tại chỗ do ký sinh trùng chết (Malik và Dua, 2022). Trong khi thuốc ivermectin (IVM) là một macrocyclic lactone dẫn xuất từ avermectins, một lớp thuốc có hoạt tính phổ rộng chống lại ký sinh trùng, phân lập từ Streptomyces avermitilis lên men (Campbell và cs., 1979; Fox và cs., 2006). IVM tác động như một chất điều hòa dị lập thể dương tính(positive allosteric modulator) có chọn lọc mở kênh ion glutamate-gated chloride trong cơ, thần kinh vận động, hệ sinh sản con cái và lỗ tiết của các giun tròn và côn trùng.Cơ chế tác động này thúc đẩy liệt cơ và mất ức chế miễn dịch vật chủ khi các lỗ tiếtkhông thể giải phóng các chất bên trong cơ thể chúng (Martin và cs., 2021).
Thuốc phối hợp IVM và Praziquantel cho thấy có hiệu lực trong điều trị sán dây đường ruột của ngựa, dẫn đến ngăn chặn đào thải trứng trong phân sau điều trị (Rehbein và cs., 2003; Getachew và cs., 2013). Hiệu ứng diệt sán dây trên In vitro của thuốc IVM đã cho thấy chống lại sán dây Echinococcus granulosus (Ahmadpour và cs., 2019). Cơ chế tác động của IVM trên sán dây chưa được mô tả. Hầu hết gần đây đề cập IVM được áp dụng theo mục đích khác với hiệu ứng chống virus, ức chế phát triển virus RNA trên in vitro, một số virus DNA và virus giả dại (pseudorabies virus) (Lv và cs., 2018), có hoạt tính chống sốt rét (Panchal và cs., 2014), hoạt tính chống chuyển hóa và chống ung thư (Martin và cs., 2021).
Mô hình bệnh ATSDLTK thực nghiệm đã được sử dụng để nghiên cứu các khía cạnh liên quan đến mối tương tác phức tạp giữa vật chủ và ký sinh trùng, bao gồm khía cạnh đáp ứng hóa sinh với thuốc, thay đổi mô bệnh học bên trong vật chủ và ký sinh trùng sau khi điều trị khác nhaucũng như sàng lọc các liệu pháp thuốc thay thế (Sampaio và cs., 2020; Correia và cs., 2022; Francisca và cs., 2020). Một trong những mô hình thực nghiệm về bệnh lý ATSDLTK được sử ụng nhiều nhất là gây nhiễm nang sán Taenia crassiceps vào trong hệ thần kinh trung ương của chuột cho phép nghiên cứu cả mô ký sinh trùng và vật chủ và các đáp ứng của vật chủ (Matos-Silva và cs., 2012; Vinaud và Ambrosio, 2020). Các nghiên cứu về mô bệnh học của ATSDLTK ở cầu nối tương tác giữa vật chủ và ký sinh trùng cho thấy tiến trình bệnh học phổ biến nhất trong mô vật chủ là thâm nhiễm các tế bào viêm đa nhân và đơn nhân (mononuclear and polymorphonuclear cells inflammatory infiltration), tăng huyết áp, phì đại não thất, viêm quanh mạch máu và viêm té bào vi giao (microgliosis) lệ thuộc thời gian nhiễm và vị trí ký sinh của ký sinh trùng (Matos-Silva và cs., 2012; Silva và cs., 2017; Sampaio và cs., 2020). Tế bào vi giao là những tế bào miễn dịch cư trú trong hệ TKTU, bị kích hoạt và gia tăng số lượng ở một khu vực nhất định của não hoặc hệ thần kinh do tổn thương, hoặc các yếu tố kích thích khác. Mặc dù ban đầu microglia đóng vai trò bảo vệ, nhưng trong nhiều bệnh lý, sự kích hoạt quá mức này có thể dẫn đến viêm thần kinh và làm tổn thương thêm các tế bào thần kinh, đóng góp vào sự phát triển của các bệnh thoái hóa thần kinh.
Theo hướng dẫn của TCYTTG về quản lý bệnh ATSDLTK do sán dây T. solium (WHO, 2021) một trong những nghiên cứu ưu tiên vê bệnh ATSDLTK là xác định phối hợp thuốc chống giun sán tối ưu nhất để đề xuất thay thế liệu pháp điều trị.Do đó, việc đánh giá trong nghiên cứu trênvề khía cạnh mô bệnh học của bệnh lý ATSDLTK trên động vật thực nghiệm sau khi điều trị thử nghiệm in vivo với thuốc phối hợp albendazole và ivermectin.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. The STOP project was supported by the EDCTP2 program (grant number RIA2017NCT-1845 and PSIA2020-3072) www.stoptheworm.org
2. https://www.edctp.org/news/EMApublishes positive opiniononafixed-dosecombinationof albendazole and ivermectinto treat parasitic worm infections/
3. EMA publishes positive opinion on a fixed-dose combination of albendazole and ivermectin to treat parasitic worm infections.
4. Krolewiecki A, Kepha S, Fleitas PE et al. A Phase II/III randomized trial of an albendazole-ivermectin coformulation for the treatment of Trichuris trichiura and other soil-transmitted helminths.
5. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/39805305/Albendazole-ivermectin co-formulation for the treatment of Trichuris trichiura and other soil-transmitted helminths: a randomised phase 2/3 trial.
6. Ivermectin/Albendazole: Medicine overview, Reference number EMA/48961/2025, English 110.38 KB-PDF.
7. Rafael Caetano da Silva Santana, Tiago Paiva Prudente, Carlos Henrique de Sousa Guerra, Nayana Ferreira de Lima, Ruy de Souza Lino Junior (2022). Albendazole-Ivermectin combination decreases inflammation in experimental neurocysticercosis. Experimental Parasitology, Volume 251, August 2023, 108568
8. http://www.drugs.com/albendazole-ivermectin interaction
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang & CN. Nguyễn Thái Hoàng
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn