Chương trình Phòng chống Sốt rét khu vực sông Mê kông của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Văn phòng WHO khu vực Tây Thái Bình Dương (WPRO) và Văn phòng WHO khu vực Đông Nam Á (SEARO) tổ chức cuộc Hội thảo về Giám sát tình hình kháng hóa chất diệt côn trùng và xây dựng bản đồ véc tơ sốt rét ở khu vực tiểu vùng sông Mê kông (the Greater Mekong Subregion - GMS) từ 14-16/3/2012 tại Khoa Y học Nhiệt đới, Đại học Mahidol, Bangkok, Thái Lan.
|
Dr Abraham Mnzava- đại diện Tổ chức Y tế Thế giới phát biểu tại Hội nghị |
Lập bản đồ véc tơ sốt rét và giám sát tình trạng kháng hóa chất diệt là hai hoạt động giám sát côn trùng chủ yếu của Chương trình phòng chống sốt rét ở khu vực GMS. Do sự thay đổi nhanh chóng của các hệ sinh thái tại khu vực này, cho nên cần thiết cập nhật sự phân bố của các loài véc tơ sốt rét chính (đã được chứng minh trước đây) theo vùng địa lý; đồng thời cần xác định rõ các loài véc tơ phụ khác có thể đóng vai trò quan trọng trong việc lan truyền bệnh sốt rét ở các vùng sinh thái khác nhau.
Các biện pháp màn tẩm hóa chất tồn lưu dài (long lasting insecticidal bednets- LLINs) và phun tồn lưu hóa chất trong nhà (indoor residual spraying – IRS) hiện nay đang được triển khai trên một phạm vi rộng lớn chưa từng thấy, gây nên áp lực chọn lọc mạnh mẽ đối với các véc tơ sốt rét để kháng lại các hóa chất này. Các loại hóa chất trong nhóm Pyrethroid là những hóa chất duy nhất dùng cho tẩm màn phòng chống muỗi và các vật dụng khác bao gồm võng, quần áo và các đồ dùng cá nhân. Phun tồn lưu hóa chất trong nhà (IRS) ngày càng được sử dụng ở các nước khu vực GMS như một biện pháp phòng chống véc tơ hỗ trợ trong những điều kiện dịch tễ học nhất định.
Các loại hóa chất Pyrethroid là những hóa chất được chọn do có độc tính thấp và tồn lưu khá lâu trên bề mặt phun. Lượng hóa chất diệt côn trùng Pyrethroid sử dụng trong gia dụng và trong nông nghiệp chưa được xác định cụ thể, nhưng được đánh giá là rất lớn trong khu vực. Mặc dù hoạt động giám sát kháng hóa chất diệt côn trùng được lồng ghép vào kế hoạch chiến lược quốc gia của tất cả các nước, nhưng việc thực hiện thực chất vẫn chưa đồng bộ và chưa theo hệ thống.
Do sự gia tăng nhanh chóng mức độ kháng hoá chất Pyrethroid ở các véc tơ chính truyền bệnh sốt rét ở châu Phi, Chương trình phòng chống sốt rét toàn cầu của WHO đã khuyến nghị đẩy mạnh giám sát tình trạng kháng hóa chất. Trong năm 2011, tại cuộc họp “Các Nhà quản lý Chương trình Phòng chống Sốt rét” tổ chức vào tháng 8/2011 tại Manila, Philippines, WPRO đã đề xuất thành lập “Mạng lưới kháng hóa chất khu vực Châu Á Thái Bình Dương” (Asia Pacific Insecticide Resistance Net Work-APNVR) để hỗ trợ hoạt động giám sát kháng hóa chất diệt côn trùng thông qua Tổ chức Y tế Thế giới (WPRO và SEARO) và để củng cố hoạt động giám sát kháng hóa chất theo những phương pháp chuẩn và hệ thống báo cáo.
 |
Các đại biểu tham dự Hội tháo chụp hình lưu niệm |
Nội dung của hội thảo tại Bangkok lần này là:
§Tổng quan tình hình nhạy/kháng hóa chất diệt của các véc tơ sốt rét ở các nước GMS và sự phân bố theo vùng địa lý của các véc tơ sốt rét chính và phụ.
§Nhất trí thông qua các biện pháp giám sát kháng hóa chất diệt và tiến hành lập bản đồ véc tơ ở các nước GMS, hệ thống báo cáo, kết nối mạng lưới và cơ chế chia sẻ và phổ biến dữ liệu.
§Xây dựng kế hoạch hoạt động quốc gia năm 2012 về giám sát kháng hóa chất diệt và xây dựng bản đồ véc tơ ở các nước GMS.
Ngoài ra, tại Hội thảo, các đại biểu còn được giới thiệu về phương pháp thử nghiệm đánh giá mức độ nhạy/kháng với hóa chất diệt của muỗi bằng chai thủy tinh của Trung tâm phòng chống dịch bệnh Hoa kỳ (CDC)
Kết thúc, Hội nghị đã thống nhất đưa ra những kết luận và khuyến cáo sau:
1.Cho đến nay, nhiều nước đã đạt được những tiến bộ trong việc giám sát sự phân bố véc tơ và kháng hóa chất diệt của muỗi. Duy trì được những thành quả này là rất quan trọng, vì nó giúp xây dựng năng lực phân tích số liệu và dự đoán xu hướng phát triển kháng hóa chất cũng như đưa ra các biện pháp phòng chống thích hợp.
2.Sự hình thành các mạng lưới trong khu vực Châu Á-TBD về kháng hóa chất của véc tơ (Asia Pacific Network for Vector Resistance) đã tạo cơ sở cho việc trao đổi thông tin, hợp tác và xây dựng năng lực. Hiện tại, 2 văn phòng của TCYTTG (Tây Á-TBD và Đông Nam Á) cũng đã hợp tác với mạng lưới ACTMalaria với tư cách là Ban thư ký (chyên trách về nghiên cứu các bệnh nhiệt đới-TDR).
3.Thử nghiệm tính nhạy kháng theo quy trình của WHO vẫn được xem là tiêu chuẩn trong phát hiện sớm muỗi kháng hóa chất (đã có quy trình cải tiến các bước thử nghiệm về Giám sát kháng hóa chất của muỗi, WHO 2012).
4.Trong khi thử nghiệm của WHO chỉ cung cấp thông tin về sự hiện diện của kháng thuốc, thử nghiệm bằng chai thủy tinh của CDC là phù hợp trong việc cung cấp thông tin liên quan tới mức độ kháng hóa chất của muỗi.
|
Các đại biểu thảo luận tại Hội nghị |
5.5.1 Gene kháng thấp (KDr-Knockdown resistance) của muỗi sốt rét (An. gambiae) đã được phát hiện kháng với tất cả các hóa chất thuộc nhóm Pyrethroid, mặc dù mức độ kháng là không cao.
5.2Tuy nhiên, cơ chế chuyển hóa của gene kháng này dù có ý nghĩa quan trọng đối với sự thất bại của công tác phòng chống véc tơ, nhưng chưa thể gây nên hiện tượng kháng chéo ở tất các các hóa chất nhóm Pyrethroid.
5.3Vì vậy, cần phải có thêm thông tin về cơ chế kháng để qua đó khống chế hiện tượng kháng hóa chất của muỗi.