Các bệnh nhiệt đới bị lãng quên (Neglected tropical
diseases-NTDs)
là một nhóm bệnh đa dạng do nhiều tác nhân gây bệnh (bao gồm virus, vi khuẩn,
ký sinh trùng, nấm và độc tố) gây ra và liên quan đến những hậu quả nghiêm
trọng về sức khỏe, xã hội và kinh tế. NTDs chủ yếu phổ biến ở các cộng đồng
nghèo khó tại các vùng nhiệt đới, mặc dù một số bệnh có phạm vi phân bố địa lý
rộng hơn nhiều. Ước tính các bệnh nhiệt đới bị lãng quên ảnh hưởng đến hơn 1 tỷ
người, trong khi số người cần can thiệp điều trị NTDs (cả phòng ngừa và chữa
trị) là 1,495 tỷ người. Dịch tễ học của NTDs rất phức tạp và thường liên quan
đến điều kiện môi trường. Nhiều bệnh trong số đó lây truyền qua vật trung gian,
có vật chủ là động vật và liên quan đến vòng đời phức tạp. Tất cả những yếu tố
này khiến việc kiểm soát sức khỏe cộng đồng trở nên khó khăn.
Nhiễm sán dây lợn Taenia solium (T. solium)
gây ra gánh nặng lớn ở các quốc gia lưu hành bệnh. Lộ trình Bệnh Nhiệt đới bị lãng
quên giai đoạn 2021-2030 của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) đề xuất rằng 30%
các quốc gia lưu hành bệnh cần đạt được mục tiêu tăng cường kiểm soát T. solium ở các khu vực có tỷ lệ mắc
bệnh cao vào năm 2030. Hiểu rõ sự khác biệt về địa lý trong hồ sơ tỷ lệ mắc
bệnh theo độ tuổi và ước tính lực lây nhiễm (FoI-Force of Infection), lực lây
nhiễm là tỷ lệ các cá thể dễ mắc bệnh trong một quần thể bị nhiễm bệnh truyền
nhiễm, thể hiện nguy cơ nhiễm trên mỗi người trong một khoảng thời gian cụ thể,
chỉ số này sẽ giúp định hướng thiết kế các biện pháp can thiệp ở các bối cảnh
khác nhau. Dữ liệu về tỷ lệ mắc bệnh sán dây ở người và bệnh nang sán ở người
theo độ tuổi từ 16 nghiên cứu ở Mỹ Latinh, Châu Phi và Châu Á đã được trích
xuất thông qua một đánh giá có hệ thống.
Hình 1.
Bản đồ thế giới thể hiện sự phân bố lây truyền bệnh sán dây T. solium/bệnh nang sán
Nguồn: Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2025)
Các mô hình xúc tác, kết hợp sự không chắc
chắn về hiệu suất chẩn đoán đã được áp dụng cho dữ liệu bằng phương pháp
Bayesian để ước tính tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh kháng thể (Ab), tỷ lệ nhiễm
bệnh và tỷ lệ đảo ngược huyết thanh kháng thể hoặc mất nhiễm bệnh. Tỷ lệ FoI và
tỷ lệ đảo ngược huyết thanh kháng thể của bệnh sán dây cũng được ước tính trên
23 tỉnh thành ở Colombia từ 28.100 cá nhân. Ở các bối cảnh khác nhau, có sự
khác biệt rộng rãi về tỷ lệ huyết thanh ở mọi lứa tuổi. Bằng chứng về sự đảo
ngược huyết thanh kháng thể hoặc mất khả năng nhiễm bệnh đã được tìm thấy ở hầu
hết các bối cảnh đối với cả bệnh sán dây ở người, cũng như đối với sự đảo ngược
huyết thanh kháng thể ở Colombia.
Thời gian trung bình cho đến khi con
người trở nên dương tính với kháng thể/bị nhiễm bệnh giảm khi tỷ lệ hiện huyết
thanh dương tính ở mọi lứa tuổi tăng lên. Không có mối quan hệ rõ ràng giữa
thời gian trung bình con người duy trì dương tính với kháng thể và tỷ lệ hiện
mắc huyết thanh ở mọi lứa tuổi. Sự khác biệt rõ rệt về địa lý trong tỷ lệ lây
truyền T. solium cho thấy cần có các
chiến lược can thiệp cụ thể theo từng bối cảnh để đạt được các mục tiêu của TCYTTG.
Bệnh ấu trùng sán lợn
Nhiễm Cysticercus cellulosae ở người, còn có một số thuật ngữ khác thường không rõ ràng như bệnh nang sán ở người, bệnh ấu trùng nang sán thể thần kinh (NCC), bệnh nang sán ở lợn, sán dây Taenia solium, bệnh nang sán ở lợn, nhiễm sán dây ở lợn tùy theo vật chủ nhiễm. Bệnh ấu trùng sán dây
lợn (cysticercosis) là một bệnh có thể phòng ngừa ở người và lợn, do ấu trùng
của ký sinh trùng của sán dây Taenia solium gây ra. Ở người,
bệnh sán dây lợn có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng khi ấu trùng nằm trong hệ
thần kinh trung ương, dẫn đến bệnh sán dây thần kinh (NCC-neurocysticercosis)
có thể gây co giật và động kinh, thậm chí tử vong. Đây là nguyên nhân chính gây
ra Nhibệnh động kinh có thể phòng ngừa khi có sự hiện diện của ký sinh trùng và
ước tính có khoảng 2,56 đến 8,30 triệu người mắc bệnh này (WHO, 2023).
Hình 2. Chu kỳ sinh học và phát triển của sán dây lợn Taenia solium
Trên người
Bệnh sán dây ở người lây nhiễm khi ăn thịt lợn nhiễm bệnh chưa nấu chín kỹ có chứa ấu trùng sán dây T. solium, sau đó ấu trùng này sẽ phát triển thành sán dây trưởng thành trong ruột non. Bệnh sán dây ở người thường không có triệu chứng hoặc chỉ có các triệu chứng nhẹ/không đặc hiệu như đau bụng hoặc tiêu chảy. Triệu chứng bắt đầu xuất hiện khi sán dây phát triển hoàn toàn trong ruột, thường khoảng 8 tuần sau khi ăn phải. Các triệu chứng này có thể tiếp tục cho đến khi sán dây chết sau khi điều trị, nếu không chúng có thể sống được vài năm. Người mang sán dây thải trứng sán dây ra môi trường khi đi vệ sinh ở những nơi công cộng. Việc nuốt phải trứng sán dây thải ra từ môi trường gây ra bệnh nang sán ở người và lợn.
Bệnh sán dây ở người lây truyền qua đường ăn phải trứng sán dây theo đường phân-miệng hoặc qua thức ăn/nước bị ô nhiễm. Trứng sán khi nuốt phải sẽ phát triển thành ấu trùng và tạo nang trong cơ bắp, dưới da, mắt hoặc trong hệ thần kinh trung ương, gây ra bệnh sán dây thần kinh (neurocysticercosis), đây là bệnh nghiêm trọng nhất do sán dây T. solium gây ra. Hầu hết các trường hợp sán dây thần kinh đều không có triệu chứng, tuy nhiên, triệu chứng phổ biến nhất là co giật, và đây là nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh động kinh có thể phòng ngừa được trên toàn thế giới. Các nang sán nằm ở các vùng khác nhau của não bộ gây ra các hội chứng lâm sàng đặc trưng như động kinh cục bộ, co giật động kinh, tràn dịch não, đau đầu mãn tính và các triệu chứng liên quan đến tăng áp lực nội sọ. Thời gian ủ bệnh trước khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng rất khác nhau, và người nhiễm bệnh có thể không có triệu chứng trong nhiều năm.
Các tiêu chí được quốc tế công nhận để chẩn đoán bệnh nang sán thần kinh bao gồm yêu cầu sử dụng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh thần kinh, chẳng hạn như chụp cắt lớp vi tính (CT) và/hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI), lý tưởng nhất là được hỗ trợ bởi xét nghiệm huyết thanh học. Tuy nhiên, các trang thiết bị này không có sẵn ở tất cả các nơi, đặc biệt là ở các vùng nông thôn của các quốc gia có thu nhập thấp, khiến việc xác định và điều trị bệnh nhân trở nên khó khăn. Do đó, tỷ lệ nhiễm bệnh, tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong có thể bị đánh giá thấp một cách nghiêm trọng. Việc điều trị bệnh nang sán thần kinh có thể bao gồm điều trị bằng thuốc tẩy giun, thuốc chống viêm và thuốc chống động kinh (AED), và phẫu thuật thần kinh trong một số trường hợp như được nêu chi tiết trong hướng dẫn của TCYTTG về quản lý bệnh nang sán (WHO, 2021).
Hình 3. Con đường lây nhiễm sán dây lợn và hình thành thương tổn tại các mô và cơ quan
Động vật
Lợn thường là vật chủ trung gian của T. solium nhưng con người, vật chủ chính, cũng có thể đóng vai trò là vật chủ trung gian ngẫu nhiên sau khi ăn phải trứng gây bệnh (CDC, 2019). Các biện pháp kiểm soát cụ thể trong quần thể lợn bao gồm tiêm phòng cho lợn bằng vaccine TSOL18 và điều trị bằng oxfendazole. Tiêm phòng giúp ngăn ngừa lợn bị nhiễm bệnh; oxfendazole chữa khỏi cho những con lợn đã bị nhiễm bệnh tại thời điểm tiêm phòng và cả hai có thể được sử dụng đồng thời.
T. solium là bệnh đặc hữu hay lưu hành ít nhất ở 51 quốc gia và có thêm 14 quốc gia khác nghi ngờ là bệnh đặc hữu, chủ yếu ở Châu Phi, Châu Á và Mỹ Latinh (WHO, 2022). Tổng số người mắc bệnh ấu trùng sán dây lợn thể thần kinhh (NCC-neurocysticercosis) có triệu chứng hoặc không có triệu chứng ước tính khoảng 2,56 - 8,30 triệu người. Gánh nặng lớn nhất của bệnh do T. solium gây ra là do NCC, ước tính chiếm 30% các trường hợp động kinh ở những khu vực bệnh lưu hành. Tuy nhiên, ở một số cộng đồng cụ thể, tỷ lệ này có thể lên đến 70%. Khoảng 80% người mắc bệnh động kinh sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình và hầu hết không được điều trị đúng cách và theo dõi đầy đủ (WHO, 2022).
Tại Châu Mỹ Latinh, ước tính năm 2010 có 30.859 trường hợp mắc bệnh NCC và 960 ca tử vong có liên quan đến NCC, gây ra 180.829 năm sống bị mất do tàn tật (DALYs) (PAHO, 2017). Các yếu tố chính thúc đẩy gia tăng bệnh sán dây lợn bao gồm số lượng lợn nuôi trong sân nhà và tình trạng phóng uế bừa bãi ở vùng nông thôn. Bệnh sán dây là bệnh nhiễm trùng đường ruột do sán dây trưởng thành gây ra. Nếu không được điều trị, bệnh sẽ phát triển thành bệnh nghiêm trọng hơn hay gọi là bệnh nang sán khi ấu trùng sán dây T. solium xâm nhập vào các mô cơ thể. Khi ấu trùng tích tụ trong hệ thần kinh trung ương (TKTU), cơ bắp, da và mắt, nó dẫn đến bệnh nang sán thần kinh (NCC) - dạng bệnh nặng nhất và là nguyên nhân phổ biến gây co giật trên toàn cầu (WHO, 2018).

Bệnh sán dây T. solium lây nhiễm sang người do ăn phải nang ấu trùng (cysticerci) của sán này trong thịt lợn chưa nấu chín kỹ và bị nhiễm. Người mang sán dây thải trứng sán dây qua phân và làm ô nhiễm môi trường khi đi vệ sinh ở những nơi công cộng. Người cũng có thể bị nhiễm trứng sán dây T. solium do vệ sinh kém (qua đường phân-miệng) hoặc ăn phải thức ăn hoặc uống nước bị ô nhiễm mầm bệnh (WHO, 2022). Khi nuốt phải trứng sán dây T. solium, chúng sẽ phát triển thành ấu trùng (gọi là nang sán) trong các cơ quan khác nhau của cơ thể người. Khi xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương, chúng có thể gây ra các triệu chứng thần kinh NCC, bao gồm các cơn động kinh. T. solium là nguyên nhân gây ra 30% các trường hợp động kinh ở nhiều vùng dịch tễ - nơi người và lợn thả rông sống gần nhau. Ở các cộng đồng có nguy cơ cao, nó có thể liên quan đến tới 70% các trường hợp động kinh (WHO, 2022)....
Hết phần 1 ---> Tiếp theo Phần 2
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang & Ths.BS. Châu Văn Khánh
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn