Tác động của bệnh sán dây và NCC trên sức khỏe
Bệnh sán dây T. solium gây ra tác động đáng kể đến xã hội. Bệnh sán dây thể thần kinh gây ra gánh nặng thiệt hại kinh tế lớn, làm gia tăng nghèo đói do chi phí điều trị cao và kéo dài cho bệnh nhân, gia đình họ và hệ thống chăm sóc sức khỏe. Điều này càng trầm trọng hơn do tổn thất kinh tế liên quan đến bệnh sán dây ở lợn do mất giá trị từ những con lợn bị nhiễm. Hơn nữa, nhiều bệnh nhân, đặc biệt là bệnh nhân nữ, phải đối mặt với sự phân biệt đối xử và kỳ thị do các triệu chứng động kinh (thường bị cho là liên quan đến phù não), làm gia tăng bất bình đẳng.
Hơn 80% trong số 50 triệu người trên thế giới mắc bệnh động kinh sống ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình thấp (WHO, 2022). Bệnh nang sán thần kinh (NCC) là nguyên nhân gây động kinh phổ biến nhất có thể phòng ngừa được trên toàn thế giới và ước tính gây ra 30% tổng số ca động kinh ở các quốc gia nơi sán dây lợn này lưu hành. Ở một số cộng đồng cụ thể, tỷ lệ mắc bệnh nang sán thần kinh NCC và động kinh có thể lên đến 70%. Tại các vùng sâu vùng xa nghèo khó, nơi bệnh này phổ biến, việc chẩn đoán và điều trị động kinh rất khó khăn và gây ra sự kỳ thị lớn, đặc biệt là đối với các bé gái và phụ nữ (WHO, 2022).

Hình 5. Lịch sử nghiên cứu về các loại sán dây Taenia spp. và vật chủ liên quan
Bệnh sán dây chủ yếu ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh kế của các cộng đồng nông thôn tự cung tự cấp ở các nước đang phát triển thuộc Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ Latinh. Bệnh này cũng làm giảm giá trị thị trường của lợn và khiến thịt lợn không an toàn để ăn (WHO, 2022). Trong bản cập nhật năm 2022 về bản đồ lưu hành bệnh sán dây T. solium của TCYTTG, báo cáo cho biết trong số 196 quốc gia và vùng lãnh thổ được đánh giá, có 51 quốc gia được phân loại là vùng lưu hành bệnh sán dây T. solium, 14 quốc gia nghi ngờ là vùng lưu hành, 21 quốc gia có ít lợn tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ và 55 quốc gia không phải là vùng lưu hành. Có dữ liệu không đầy đủ đối với 59 quốc gia và không có dữ liệu hoặc có khả năng lây truyền ở một số cộng đồng tại 14 quốc gia (WHO, 2022).
Bệnh nang sán T. solium vẫn là một bệnh bị lãng quên do thiếu nhận thức chung, thiếu thông tin về gánh nặng bệnh tật, thiếu các công cụ được kiểm chứng để chẩn đoán tại hiện trường, thiếu nguồn lực để kiểm soát và điều trị, khó tiếp cận với chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu về hệ thần kinh và chăm sóc thần kinh và sự do dự trong việc đầu tư vào các bệnh nhiệt đới lây truyền từ động vật sang người bị lãng quên. Việc kiểm soát và loại trừ sán dây T. solium gặp nhiều khó khăn, trong đó có việc thiếu dữ liệu dịch tễ học đáng tin cậy về các trường hợp nhiễm ở người và lợn. Hệ thống giám sát phù hợp và các công cụ chẩn đoán tại chỗ sẽ giúp xác định và can thiệp mục tiêu vào các cộng đồng có nguy cơ cao. Các biện pháp phòng ngừa chính bao gồm hóa trị dự phòng bệnh sán dây, và phương pháp tiếp cận "Một sức khỏe" bao gồm tiêm phòng và điều trị tẩy giun cho lợn để ngăn ngừa nhiễm ấu trùng sán dây T. solium.
Việc nâng cao nhận thức và sức khỏe cộng đồng là cần thiết để hỗ trợ các biện pháp can thiệp này. Các biện pháp can thiệp khác đòi hỏi cách tiếp cận dài hạn hơn, chẳng hạn như cải thiện các biện pháp quản lý lợn để ngăn ngừa lợn tiếp xúc với phân người; cải thiện vệ sinh để ngăn ngừa sự tiếp xúc giữa lợn hoặc người với trứng sán dây T. solium trong phân người và trong môi trường; kiểm tra thịt và nấu chín thịt lợn đầy đủ để giảm nguy cơ người bị nhiễm và truyền thông giáo dục sức khỏe và truyền thông nguy cơ cần đẩy mạnh để thúc đẩy vệ sinh tay, an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường và quản lý lợn (WHO, 2023).



Hình 6. Hình ảnh ấu rùng sán dây lợn trong hệ thần kinh trung ương
Các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát ở động vật bao gồm cải thiện các thực hành chăn nuôi lợn, tiêm phòng cho lợn bằng vaccine TSOL18, điều trị cho lợn bằng oxfendazole, giám sát thịt, chế biến thịt (đông lạnh) (FAO, OIE & WHO, 2021). Oxfendazole là một loại thuốc chống ký sinh trùng thuộc nhóm benzimidazole, có chế tác dụng là gây thoái hóa cấu trúc các vi ống của ký sinh trùng và ngăn chặn vĩnh viễn quá trình hấp thụ glucose ở ký sinh trùng, dẫn đến cái chết của chúng mà không ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa glucose ở động vật có vú.
Thuốc này được sử dụng để điều trị ký sinh trùng đường ruột ở động vật. Giống như các thuốc benzimidazole khác, thuốc này gây thoái hóa vi ống của ký sinh trùng và ngăn chặn vĩnh viễn sự hấp thụ glucose ở ký sinh trùng. Sự ức chế hấp thụ glucose gây cạn kiệt nguồn năng lượng dự trữ trong ký sinh trùng, cuối cùng dẫn đến chết.
Bảng dưới đây cung cấp tổng quan về việc giám sát bệnh sán dây lợn, các thông tin này có thể được sử dụng để dự báo trong hệ thống cảnh báo sớm Quốc gia (EWS). Do năng lực và quy trình của EWS khác nhau giữa các quốc gia, thông tin cập nhật và cụ thể nhất về EWS nên được lấy từ cơ quan Quốc gia hoặc khu vực có thẩm quyền chịu trách nhiệm quản lý thiên tai.
TCYTTG hỗ trợ các quốc gia thực hiện đánh giá nguy cơ chiến lược toàn diện trong bối cảnh các trường hợp khẩn cấp về sức khỏe và thiên tai, từ đó xây dựng Hồ sơ rủi ro Quốc gia. Với hồ sơ rủi ro Quốc gia, bao gồm cả lịch rủi ro theo mùa, các quốc gia có thể dự đoán các trường hợp khẩn cấp tiềm tàng trước khi chúng xảy ra để kích hoạt cảnh báo sớm và đưa ra các hành động kịp thời (WHO, 2021).
Dữ liệu giám sát mạnh là nền tảng để đánh giá gánh nặng bệnh tật, thực hiện các biện pháp và đánh giá tiến độ. Đối với các bệnh bị bỏ quên khác, dữ liệu đặc biệt khan hiếm. TCYTTG đang tích cực khắc phục tình trạng này bằng cách thu thập và lập bản đồ dữ liệu về sự phân bố của T. solium và các yếu tố rủi ro liên quan đến sự xuất hiện của ký sinh trùng, chẳng hạn như thông tin về chăn nuôi lợn, an toàn thực phẩm và vệ sinh. Thông tin này đã được tích hợp vào Đài quan sát sức khỏe toàn cầu của TCYTTG (WHO, 2022).
Hệ thống cảnh báo sớm, Thông báo và Ứng phó (Early Warning, Alert and Response System - EWARS) của TCYTTG được thiết kế để cải thiện việc phát hiện dịch bệnh trong các tình huống khẩn cấp, chẳng hạn như ở các Quốc gia đang xung đột hoặc sau thảm họa thiên nhiên. Đây là một cách đơn giản và tiết kiệm chi phí để nhanh chóng thiết lập hệ thống giám sát dịch bệnh. EWARS được triển khai trong trường hợp khẩn cấp như một phần bổ trợ cho hệ thống giám sát dịch bệnh quốc gia. TCYTTG hợp tác với Bộ Y tế và các đối tác trong ngành y tế để đào tạo nhân viên y tế địa phương sử dụng hệ thống này. Sau khi tình trạng khẩn cấp kết thúc, EWARS cần được tích hợp trở lại vào hệ thống quốc gia (WHO, 2024)....
Hết phần 2 --> Tiếp theo Phần 3
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang & Ths.BS. Châu Văn Khánh
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn