Ảnh hưởng của KST đến mô hình ung thư: Nghiên cứu phân tích ở BV Al-Hawari, Benghazi, libya
Quá trình sinh ung thư, trong một số trường hợp có thể liên quan đến một số tình trạng nhiễm ký sinh trùng. Trong nghiên cứu này, các điểm mấu chốt liên quan đến mối quan hệ giữa ký sinh trùng và quá trình sinh ung thư sẽ được thảo luận. Thông qua việc phân tích hồ sơ y tế của các bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện Al-Hawari và nghiên cứu các công trình trước đây về các loài ký sinh trùng hiện hữu, nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra mối quan hệ giữa ký sinh trùng và bệnh ung thư, đồng thời định lượng các loại ung thư phổ biến tại Libya.
Nghiên cứu được thực hiện tại Benghazi, Libya, tiến hành phân tích hồ sơ y tế của 248 bệnh nhân ung thư năm 2024. Dữ liệu được thu thập từ 13 thành phố trên khắp Libya. Sử dụng thiết kế nghiên cứu hồi cứu, công trình này kết hợp cả phân tích dữ liệu y tế thu thập được và rà soát hơn 18 nguồn tài liệu liên quan. Phân tích thống kê được thực hiện bằng phần mềm SPSS để đánh giá mối quan hệ giữa độ tuổi và các loại ung thư, áp dụng kiểm định Chi-bình phương cho các biến phân loại.
Ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất, chiếm 41,1%, tiếp theo là ung thư cổ tử cung chiếm 16,9%. Benghazi có tỷ lệ mắc ung thư cao nhất, chiếm 54,8% số ca ghi nhận, trong khi nhóm tuổi có tần suất ung thư cao nhất là 51-60 tuổi (29%). Nghiên cứu cũng liên kết các loại ký sinh trùng cụ thể với các bệnh ung thư khác nhau, chẳng hạn như Toxoplasma gondii với ung thư vú và các loài Schistosomaspp. với ung thư bàng quang và ung thư trực tràng và có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa độ tuổi và tình trạng nhiễm bệnh. Điều này chỉ ra có nhiều loại ký sinh trùng hiện diện tại Libya có liên quan đến ung thư. Do đó, nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của việc tiếp tục nghiên cứu vai trò của tình trạng nhiễm trùng này trong sự phát triển của ung thư.
Nhiễm ký sinh trùng được các nhà khoa học tin rằng chính là một yếu tố góp phần vào sự phát triển của ung thư. Các loại ký sinh trùng khác nhau có thể gây ra nhiều bệnh lý, bao gồm cả ung thư, và một số ký sinh trùng đã được phân loại là tác nhân gây ung thư nguy hiểm (IARC Working Group, 2012; Sithithaworn và cs., 2012).
Những ký sinh trùng này có thể thao túng các quá trình tế bào của vật chủ, dẫn đến sự tăng sinh tế bào không kiểm soát và viêm nhiễm, vốn là các yếu tố trong quá trình tạo u. Nghiên cứu đã xác định một số ký sinh trùng nhất định có thể kích hoạt quá trình sinh ung thư ở vật chủ, dẫn đến sự phát triển của các khối u ác tính.
Các ký sinh trùng gây ung thư, chẳng hạn như sán lá gan nhỏ O. viverrini và sán máng S. haematobium, đã được chứng minh có mối liên hệ với nhiều loại ung thư khác nhau, lần lượt là ung thư đường mật và ung thư bàng quang (Bouvard và cs., 2009; Botelho và cs., 2010).
Hình 3. Sự ký sinh của ký sinh trùng và sinh ung thư
|Nguồn: https://link.springer.com/article/10.1007/s11686-024-00832-z
Những ký sinh trùng này đã tiến hóa các cơ chế tinh vi để thao túng các quá trình tế bào của vật chủ, dẫn đến sự tăng sinh tế bào không kiểm soát và hình thành khối u. Ví dụ, O. viverrini tiết ra các sản phẩm bài tiết/tiết làm rối loạn các con đường truyền tín hiệu tế bào bình thường và thúc đẩy phản ứng viêm, góp phần phát triển ung thư đường mật (Sripa và cs., 2007).Việc hiểu rõ các tương tác giữa những ký sinh trùng này và vật chủ là thiết yếu để xây dựng các chiến lược phòng ngừa và điều trị ung thư do ký sinh trùng gây ra, đồng thời làm nổi bật tầm quan trọng của việc nghiên cứu ký sinh trùng gây ung thư trong bối cảnh nghiên cứu ung thư (Dheilly và cs., 2019).
Mối tương tác giữa ký sinh trùng và ung thư đã tiết lộ rằng, bên cạnh những loài ký sinh trùng có khả năng gây ung thư trực tiếp, các tác nhân ký sinh trùng còn có thể thúc đẩy sự phát triển ung thư một cách gián tiếp thông qua nhiều con đường khác nhau. Mặt khác, phản ứng miễn dịch đối với một số loại ký sinh trùng nhất định được biết là có thể mang lại hiệu ứng kháng u cho cơ thể. Các tác nhân ký sinh trùng có thể sở hữu cả “đặc tính gây u và kháng u” (Figueiredo và cs., 2018).
Một số loại ký sinh trùng có khả năng gây ung thư, chẳng hạn tình trạng nhiễm S. haematobium tại bàng quang có thể dẫn đến viêm nhiễm và hình thành sẹo kéo dài, cả hai yếu tố này đều làm tăng nguy cơ ung thư.Sán lá gan nhỏ C. sinensis cũng có liên quan đến ung thư đường mật và ung thư tụy (Forner và cs., 2012). Tần suất nhiễm ký sinh trùng có liên quan đến sự lây lan của chúng. Do đó, khi ung thư xảy ra tại các vùng lưu hành bệnh ký sinh trùng, có sự nghi ngờ không nhỏ về mối liên hệ với các tác nhân này. Tại các vùng nhiệt đới, tình trạng nhiễm ký sinh trùng mang tính lưu hành địa phương và đại diện cho một nguy cơ lớn đối với sức khỏe cộng đồng. Phần lớn hoạt động của con người đã gây ra sự tăng sinh của nhiều loại ký sinh trùng và dẫn đến sự phân bố toàn cầu hiện nay của chúng (Cox và cs., 2002).
Các cơ chế phức tạp trong cách thức vận hành của ký sinh trùng phần lớn vẫn chưa được khám phá, nên việc hiểu rõ sự tương tác giữa các tình trạng nhiễm ký sinh trùng này và quá trình khởi phát ung thư có thể cung cấp những góc nhìn giá trị cho các biện pháp phòng ngừa và can thiệp điều trị. Ngoài ra, mối liên kết giữa nhiễm ký sinh trùng và các loại ung thư khác nhau gợi mở rằng các phương pháp phòng ngừa ung thư mới nên được kết hợp với việc phòng chống ký sinh trùng nói chung và đưa vào các sáng kiến sức khỏe cộng đồng được thiết kế đặc biệt nhằm giải quyết hiệu quả gánh nặng ung thư trong cộng đồng.
Nghiên cứu đã phân tích hồ sơ bệnh án của 248 bệnh nhân đến từ 13 thành phố và các ngôi làng nhỏ trên khắp Libya, dựa theo địa chỉ cư trú của bệnh nhân được ghi nhận trong hồ sơ y tế tại Bệnh viện Al-Hawari. Nghiên cứu cho thấy các bệnh nhân đến từ nhiều thành phố của Libya và vùng ngoại ô (Benghazi, Tazrboo, Tripoli, Takns, Alquba, Sirt, Darna, Tawakura, Karkura, Alrajma, Qabr Jira, Sabha, Tobrok, Basos, Alabyar, Sabrata, Ajdabia, Solog, Almaraj, Albayda, Shahhat), chiếm khoảng 26,5% tổng số các thành phố tại Libya.
Đây là một nghiên cứu hồi cứu và cắt ngang được thực hiện thông qua việc đánh giá các thông tin ghi chép và tổng quan y văn. Nghiên cứu được chia thành hai phần:
Phần 1. Phân tích dữ liệu: Dữ liệu thu thập được đã được kiểm tra trong nhiều trường hợp từ một số khu vực thuộc vùng đông bắc Libya. Quá trình bắt đầu bằng việc định lượng các loại ung thư hiện diện tại Libya thông qua một chỉ số mẫu nhỏ từ hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân ung thư tại khoa ung bướu thuộc Bệnh viện Al-Hawari. Sau đó, một bảng kiểm các loại ung thư xuất hiện trong 03 tháng từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2024 đã được thực hiện;
Phần 2. Tổng quan y văn: Tiến hành rà soát hơn 18 tài liệu và bài báo về chủ đề này, sau đó so sánh kết quả kết luận với kết quả từ dữ liệu phân tích ở Phần 1. Quá trình này tương ứng với việc giám sát các loại ký sinh trùng đã được chứng minh là hiện diện tại một số thành phố của Libya thông qua các nghiên cứu gần đây. Thực hiện liên kết và phân tích tỷ lệ lưu hành của một số loại ung thư nhất định với sự hiện diện của các loại ký sinh trùng cụ thể gây ra các loại ung thư đó.
Phân tích thống kê: Phần mềm SPSS, phiên bản 23 đã được sử dụng để kiểm tra dữ liệu thu thập được. Nghiên cứu đã sử dụng kiểm định Chi-bình phương Pearson để xem xét mối quan hệ giữa các biến phân loại, cụ thể là giữa các nhóm tuổi và các loại ung thư. Ngoài ra, Microsoft Excel được sử dụng để xây dựng các biểu đồ. Đối với các xét nghiệm, kiểm định chi-bình phương được sử dụng cho mối quan hệ giữa hai biến phân loại vì các biến này không phải là biến định lượng. Giá trị P nhỏ hơn 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê. Kiểm định Chi-bình phương được lựa chọn thay vì ANOVA hoặc kiểm định T vì dữ liệu chỉ bao gồm các biến phân loại. Các biểu đồ được tạo bằng Microsoft Office Excel phiên bản 2021.
Kết quả cho thấy ở dữ liệu phân tích dựa trên hồ sơ bệnh án thu thập riêng tại Bệnh viện Al-Hawari và thông qua việc xem xét địa chỉ cư trú của 248 bệnh nhân, nghiên cứu đã bao gồm các đối tượng đến từ nhiều thành phố và vùng ngoại ô của Libya. Ung thư vú chiếm tỷ lệ cao nhất (41,1%), tiếp theo là ung thư cổ tử cung (16,9%). Ung thư phổi chiếm 6,5%, là một phân khúc ca bệnh đáng chú ý, trong khi ung thư trực tràng chiếm 7,3%. Cả u não và ung thư mô liên kết đều chiếm tỷ lệ 4,8%. Hơn nữa, ung thư bàng quang (1,6%), ung thư tuyến tiền liệt và các loại ung thư cần chăm sóc giảm nhẹ (đều ở mức 3,2%) cho thấy phạm vi ảnh hưởng rộng trên các hệ cơ quan. Di căn xương, ung thư vùng cổ và các loại không xác định khác có tần suất thấp hơn nhưng việc tìm hiểu chúng là rất quan trọng trong một khuôn khổ quản lý ung thư toàn diện.
Nhìn chung, dữ liệu làm nổi bật sự biến thiên về tỷ lệ lưu hành ung thư theo thành phố, trong đó Benghazi ghi nhận tần suất cao nhất như được thể hiện trong Hình 1. Hình 2 trình bày sự phân bố phần trăm các ca ung thư tại các thành phố khác nhau của Libya trong giai đoạn nghiên cứu ba tháng. Benghazi ghi nhận tỷ lệ ca bệnh cao nhất (54,8%), có khả năng do vị trí trung tâm của bệnh viện và vai trò là một trung tâm điều trị tuyến cuối. Tỷ lệ cao thứ hai thuộc về Ajdabiya. Các thành phố khác, bao gồm Tobruk và Al Bayda, cho thấy tỷ lệ thấp hơn, phản ánh sự khác biệt theo vùng về tỷ lệ mắc ung thư.
Sự phân bố phần trăm các ca ung thư theo các nhóm tuổi khác nhau, làm nổi bật gánh nặng ung thư theo độ tuổi cụ thể. Tỷ lệ ca bệnh ung thư cao nhất (29%) được quan sát ở những cá nhân từ 51-60 tuổi. Nhóm tuổi này đại diện cho đỉnh điểm về tỷ lệ lưu hành, cho thấy nguy cơ ung thư tăng lên đáng kể khi các cá nhân bước vào độ tuổi trung niên. Tổng hợp lại, các nhóm tuổi 41-50 tuổi (22,6%), 61-70 tuổi (16,9%) và 51-60 tuổi (29%) chiếm đa số các ca bệnh. Xu hướng này phản ánh mối liên quan chặt chẽ giữa sự lão hóa và tỷ lệ mắc ung thư, như thường thấy trên toàn cầu. Các nhóm tuổi dưới 40 cho thấy tỷ lệ ca bệnh ung thư thấp hơn rõ rệt; nhóm 31-40 tuổi chiếm 10,5% tổng số ca, trong khi nhóm 21-30 tuổi và dưới 20 tuổi mỗi nhóm chỉ chiếm 1,6%. Điều này cho thấy ung thư tương đối hiếm gặp ở các quần thể trẻ tuổi, phù hợp với các xu hướng dịch tễ học chung.
Tỷ lệ lưu hành ung thư ở những cá nhân từ 71-80 tuổi (13,7%) và 81-90 tuổi (4%) giảm nhẹ so với các nhóm tuổi trung niên. Sự sụt giảm này có thể phản ánh sai số sống sót (survival bias), tình trạng báo cáo dưới mức thực tế hoặc các nguyên nhân gây tử vong cạnh tranh khác ở nhóm nhân khẩu học lớn tuổi này.
Kiểm định Chi-bình phương cũng cho thấy có mối quan hệ có ý nghĩa giữa tuổi tác và tình trạng nhiễm bệnh với giá trị kiểm định là 125,304 và giá trị ý nghĩa $p = 0,000$, nhỏ hơn ngưỡng 0,05.
Hình 1. Sự phân bốloại ung thư tại các thành phố của Libya (Tháng 1-Tháng 3 năm 2024)
Hình 2. Phân bố địa lý các trường hợp ung thư tại các thành phố Libya (Tháng 1-Tháng 3 năm 2024)
Bảng 1. Phân bố các loại ung thư theo Nhóm tuổi và Thành phố
| Nhóm tuổi | Ung thư vú | Ung thư phổi | Ung thư tử cung | Ung thư trực tràng | Ung thư xương | Ung thư não | Ung thư tuyến tiền liệt | Ung thư bàng quang | Sarcoma | Ung thư cổ | Ung thư khác | Tổng tỷ lệ | Tổng số lượng |
| 11-20 | | | | | | | | | | | | 1,6% | 4 |
| 21-30 | | | | | | | | | | | | 1,6% | 4 |
| 31-40 | 31,4% | | | | | | | | | | | 10,5% | 26 |
| 41-50 | 25,5% | | 42,9% | 33,3% | | | | | 33,3% | 50% | | 22,6% | 56 |
| 51-60 | 11,8% | 50% | | | | | | | | | | 29% | 72 |
| 61-70 | 9,8% | | | | 33,3% | 33,3% | 75% | | | | | 16,9% | 42 |
| 71-80 | | | | | | | | 50% | | | 16,7% | 13,7% | 34 |
| 81-90 | | | | | | | | | | | | 4% | 10 |
| Thành phố | | | | | | | | | | | | | |
| Benghazi | 56,9% | 62,5% | 42,9% | 66,7% | 33,3% | 50% | 50% | 50% | 50% | 75% | 83,3% | 54,8% | 136 |
| Ajdabia | 5,9% | | | | 33,3% | 16,7% | | | | 25% | | 9,8% | 24 |
| Tobruk | 7,8% | 12,5% | | | | | 25% | | 33,3% | | 16,7% | 4,8% | 12 |
| Al Bayda | 5,9% | | 14,3% | | 33,3% | | | | | | | 7,3% | 18 |
| Marj | | | 9,5% | | | | | 50% | | | | 4% | 10 |
| Shahhat | | | 9,5% | 22,2% | | 16,7% | | | 16,7% | | | 1,6% | 4 |
| Rajma | | 12,5% | | | | | 25% | | | | | 1,6% | 4 |
| Sirt | 2% | | | 11% | | | | | | | | 1,6% | 4 |
| Derna | 3,9% | | 9,5% | | | | | | | | | 3,2% | 8 |
| Khác | 7,1% | 12,5% | 4% | | | 16,5% | | | 33,3% | 25% | | 9,7% | 24 |
| Tổng số | 102 | 16 | 42 | 18 | 6 | 12 | 8 | 4 | 12 | 8 | 12 | 100% | 248 |
| Tỷ lệ | -41,1% | -6,5% | -16,9% | -7,3% | -2,40% | -4,8% | -3,2% | -1,6% | -4,8% | -3,2% | -4,8% | | |
Bảng 2. Các nghiên cứu chứng minh mối liên hệ giữa Ký sinh trùng và Ung thư
| STT | Tác giả | Năm | Mối quan hệ giữa ký sinh trùng và sự hình thành ung thư |
| 1 | Botelho và cộng sự | 2010 | Nghiên cứu đã tiết lộ mối liên quan đáng kể giữa bệnh sán máng và ung thư. |
| 2 | Ogbeche và cộng sự | 2017 | Chứng minh tác động của bệnh sán máng đối với nguy cơ ung thư bàng quang tại Nigeria. |
| 3 | Fernandes và cộng sự | 2018 | Thiết lập mối liên hệ giữa nhiễm sán máng mạn tính và sự phát triển của các tổn thương ác tính ở bàng quang. |
| 4 | El-Sayed và cộng sự | 2019 | Chứng minh mối liên quan giữa bệnh sán máng và ung thư bàng quang trên bệnh nhân Ai Cập. |
| 5 | Franco PIs và cộng sự | 2023 | Gợi ý về mối liên quan tiềm tàng giữa nhiễm Trypanosoma cruzi và việc gia tăng nguy cơ ung thư dạ dày và thực quản. |
| 6 | AL-Sharifi & Al-Saegh | 2022 | Nghiên cứu phát hiện một số lượng đáng kể bệnh nhân ung thư ác tính có bằng chứng nhiễm sán máng. |
| 7 | Sithithaworn và cộng sự | 2023 | Tìm thấy mối liên quan tích cực giữa sự hiện diện của Opisthorchis viverrini (một loại sán lá gan) và sự phát triển của ung thư gan. |
| Các ký sinh trùng được tìm thấy tại Libya |
| 8 | Gashout và cộng sự | 2017 | Tại Libya, một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân bị nhiễm ký sinh trùng đường ruột, bao gồm Giardia lamblia, Entamoeba histolytica và Ascaris lumbricoides. |
| 9 | Sadaga và cộng sự | 2007 | Tỷ lệ lưu hành ký sinh trùng đường ruột cao trong nhóm học sinh tiểu học tại quận Derna, Libya. |
| 10 | Ibrahim và cộng sự | 2015 | Tỷ lệ lưu hành nhiễm ký sinh trùng đường ruột cao trong cộng đồng dân cư tại thành phố Sabha. |
| 11 | Dagdag và cộng sự | 2023 | Tỷ lệ lưu hành các loại ký sinh trùng Giardia lamblia, Entamoeba histolytica, giun kim và Cryptosporidium parvum trong dân cư tại thành phố Al - khoms, Libya. |
| 12 | Bajnok và cộng sự | 2019 | Tần suất xuất hiện ký sinh trùng Toxoplasma gondii cao trên bệnh nhân ung thư phổi. |
| 13 | Saad và cộng sự | 2022 | Một tỷ lệ lớn phụ nữ mang thai tại thành phố Tobruk đang bị nhiễm Toxoplasma gondii. |
| 14 | Al-Farsi và cộng sự | 2023 | Nghiên cứu được thực hiện cho thấy khoảng 25% dân số xét nghiệm dương tính với ít nhất một loại ký sinh trùng đường ruột. Các loại ký sinh trùng phổ biến nhất được xác định là Giardia và Cryptosporidium. |
| 15 | Hussain và cộng sự | 2019 | Nghiên cứu cho thấy khoảng 38% dân số bị nhiễm ký sinh trùng đường ruột. Loại ký sinh trùng phổ biến nhất được xác định là Giardia lamblia. |
| 16 | El. Khnefer và cộng sự | 2023 | Công bố sự tồn tại của sán máng tại thác nước Derna, họ đã tìm thấy bằng chứng của ký sinh trùng sán máng trong nước. |
| 17 | Ghenghesh và cộng sự | 2016 | Nghiên cứu đã xác định một số yếu tố nguy cơ liên quan đến nhiễm E. histolytica và Giardia lamblia trong quần thể dân cư Libya. |
| 18 | León-Ramos và cộng sự | 2024 | Sán máng là bệnh sán lá quan trọng nhất trên toàn cầu và là một tác nhân gây ung thư quan trọng. Ung thư biểu mô tế bào vảy là dạng thường gặp nhất, mối quan hệ với nhiễm sán máng hiện diện trong hơn 90% các mẫu sinh thiết. |

Hình 3. Sự phân bố các trường hợp ung thư theo độ tuổi (Tháng 1 - Tháng 3 năm 2024)
Bảng 3. Mối Liên quan giữa KST và Tỷ lệ hiện mắc các loại ung thư
| Ký sinh trùng | Loại ung thư | Tỷ lệ hiện mắc |
| Toxoplasma gondii và Trichomonas vaginalis | Vú | 41,1% |
| Wuchereria bancrofti và Brugia malayi | Sarcoma | 4,8% |
| Schistosoma haematobium | Nội mạc tử cung | 6,5% |
| Strongyloides stercoralis | Phổi | 6,5% |
| Schistosoma mansoni | Trực tràng | 7,3% |
| Trichomonas vaginalis | Cổ tử cung | 0,8% |
| Entamoeba & Giardia lamblia | Đại tràng | 3,2% |
| Leishmania & Toxoplasma | Di căn xương | 2,4% |
| Taenia solium | U não | 4,8% |
| Trichomonas vaginalis | Tử cung | 16,9% |
| Echinococcus granulosus | Tuyến giáp | 0,8% |
| Trichomonas vaginalis | Tuyến tiền liệt | 3,2% |
| Schistosoma haematobium | Bàng quang | 1,6% |
Nghiên cứu này đã điều tra sự phân bố của các loại ung thư khác nhau theo các nhóm tuổi và vị trí địa lý, tiết lộ các xu hướng và mối quan hệ quan trọng. Dữ liệu chỉ ra những biến thiên rõ rệt về tỷ lệ lưu hành ung thư dựa trên tuổi tác, loại ung thư và thành phố cư trú. Ung thư vú cho thấy tỷ lệ lưu hành cao nhất ở những cá nhân từ 31-40 tuổi (31,4%) tại Benghazi, giảm dần theo độ tuổi với 25,5% ở nhóm 41-50 tuổi, 11,8% ở nhóm 51-60 tuổi và 9,8% ở nhóm 61-70 tuổi.
Ung thư phổi chủ yếu ảnh hưởng đến nhóm 51-60 tuổi với tỷ lệ lưu hành 50% tại Benghazi, điều này nhấn mạnh sự tập trung cao hơn ở nhóm nhân khẩu học này. Ung thư cổ tử cung chủ yếu được quan sát ở nhóm 41-50 tuổi với tỷ lệ 42,9% tại Benghazi.Cả ung thư trực tràng và ung thư xương đều có tỷ lệ lưu hành 33,3% ở các nhóm tuổi 41-50 và 61-70, chủ yếu tại Benghazi. Ung thư tuyến tiền liệt cho thấy sự tập trung cao nhất ở nhóm 61-70 tuổi với tỷ lệ đáng kể là 75% tại Benghazi.Sự phân bố ung thư cũng thay đổi đáng kể theo thành phố.
Thành phố Benghazi đại diện cho gánh nặng ung thư cao nhất ở tất cảloại, với 56,9% đối với ung thư vú, 62,5% đối với ung thư phổi, 42,9% đối với ung thư tử cung, 66,7% đối với ung thư trực tràng, 33,3% đối với ung thư xương và 75% đối với ung thư tuyến tiền liệt. Thành phố Tobruk cho thấy tỷ lệ lưu hành đáng chú ý của sarcoma (33,3%) và các loại ung thư khác (16,7% ở người cao tuổi). Các quan sát riêng lẻ từ Al-Marj bao gồm tỷ lệ lưu hành ung thư bàng quang 50% ở người lớn tuổi (71-80 tuổi). Tỷ lệ lưu hành thấp hơn được quan sát thấy ở các thành phố Ajdabiya, Al Bayda và Shahat, với các ca bệnh rải rác về ung thư xương và các loại ung thư khác.
Các nghiên cứu gần đây đã nhấn mạnh tỷ lệ lưu hành các loại ký sinh trùng gây ung thư trên nhiều loài khác nhau. Dựa trên những phát hiện này, nhiều nghiên cứu đã thiết lập mối liên hệ giữa ung thư và tình trạng nhiễm ký sinh trùng. Sử dụng các hiểu biết từ những nghiên cứu này, nghiên cứu hiện tại nhằm xác định và phân tích các mối liên quan giữa các loại ký sinh trùng cụ thể và các loại ung thư tương ứng. Nghiên cứu này đã điều tra các mô hình về tỷ lệ lưu hành ung thư tại Bệnh viện Al-Hawari, Benghazi, Libya, trong đó đặc biệt tập trung vào ảnh hưởng của tình trạng nhiễm ký sinh trùng. Các kết quả cho thấy ung thư vú là loại phổ biến nhất (41,1%), tiếp theo là ung thư cổ tử cung (16,9%), với đa số các trường hợp được ghi nhận tại Benghazi. Những phát hiện này phù hợp với các mô hình ung thư toàn cầu, nhấn mạnh nhu cầu cần có các biện pháp can thiệp tập trung tại khu vực này.Phân tích về sự phân bố ung thư theo độ tuổi cho thấy tỷ lệ mắc ung thư vú đạt đỉnh ở nhóm 51-60 tuổi, kế đến là ung thư tử cung. Các xu hướng này nhất quán với hiểu biết hiện nay rằng những thay đổi nội tiết tố liên quan đến tuổi tác và việc tiếp xúc lâu dài với các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng phát triển ung thư ở phụ nữ. Các phép đo độ biến thiên, chẳng hạn như khoảng tin cậy 95%, đã xác nhận độ tin cậy của những quan sát này.
Tình trạng nhiễm ký sinh trùng đã được đánh giá về vai trò tiềm tàng trong quá trình gây ung thư, dựa trên các bằng chứng cho thấy nhiễm ký sinh trùng mãn tính có thể kích hoạt phản ứng viêm, điều hòa miễn dịch và gây tổn thương tế bào. Nghiên cứu đã chứng minh rằng nhiễm Schistosomaspp. có liên quan đáng kể đến ung thư bàng quang. S. haematobium đã được liên kết với ung thư bàng quang tại Ai Cập và Nigeria (Ahmed và cs., 2017; Ogbeche và cs., 2017; Fernandes và cs., 2018), nơi các tình trạng nhiễm trùng mãn tính dẫn đến các tổn thương ác tính ở bàng quang (Fernandes và cs., 2018). Hơn nữa, các ung thư liên quan đến Schistosomaspp. cũng đã được quan sát tại Libya, nơi việc tiếp xúc qua nguồn nước góp phần vào tỷ lệ lưu hành bệnh (Ekhnefer và cs., 2023). Ngoài ra, ung thư gan có liên quan đáng kể đến O. viverrini, một loại sán lá gan nhỏ phổ biến ở các khu vực khác, vốn gây ra tình trạng viêm và xơ hóa mãn tính, cuối cùng dẫn đến hình thành khối u (Sithithaworn và cs., 2023). Tương tự, Trypanosoma cruzi cũng có liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư dạ dày và thực quản (Franco và cs., 2023).Những phát hiện này gợi ý rằng nhiễm ký sinh trùng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển ung thư thông qua các cơ chế như gây viêm và rối loạn điều hòa miễn dịch.
Sự biến thiên về địa lý được quan sát thấy trong tỷ lệ lưu hành ung thư tại các thành phố của Libya, với Benghazi ghi nhận số lượng ca bệnh cao nhất, nhấn mạnh tầm quan trọng của khả năng tiếp cận y tế địa phương và các yếu tố môi trường. Các khu vực đô thị có thể phản ánh báo cáo chính xác hơn và năng lực chẩn đoán được cải thiện so với các vùng nông thôn, nơi nhiễm ký sinh trùng có thể lan rộng hơn do điều kiện vệ sinh kém và dịch vụ y tế hạn chế (Al-Sharifi & Al-Saegh, 2022; Sadaga & Kassem, 2007).
Mặc dù nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết giá trị về các mô hình ung thư và mối liên hệ tiềm tàng với nhiễm ký sinh trùng, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế cần được giải quyết. Thứ nhất, nghiên cứu này bị giới hạn trong dữ liệu từ một bệnh viện duy nhất, có khả năng chưa đại diện đầy đủ cho các ca ung thư ở khu vực nông thôn. Thứ hai, mặc dù mối liên hệ giữa nhiễm ký sinh trùng và ung thư được hỗ trợ bởi các nghiên cứu toàn cầu, nhưng vẫn cần các nghiên cứu phân tử chi tiết đặc thù tại Libya để xác nhận các mối liên quan này.
Các nghiên cứu trong tương lai nên hướng tới việc bao gồm tập dữ liệu rộng hơn từ nhiều trung tâm y tế và kết hợp các cuộc điều tra ký sinh trùng học để khám phá các mối liên hệ nhân quả giữa các loại ký sinh trùng cụ thể và ung thư tại Libya. Những nỗ lực này có thể cung cấp thông tin cho các can thiệp y tế công cộng, kết hợp các chương trình phòng chống ung thư với các chiến lược kiểm soát ký sinh trùng để giảm thiểu rủi ro cho các quần thể dễ bị tổn thương.
Phân tích gần đây về các ca ung thư từ tháng 1-3 năm 2024 đã cung cấp những hiểu biết quan trọng về bức tranh ung thư tại nhiều khu vực, làm nổi bật ung thư vú là loại được chẩn đoán nhiều nhất, chiếm 41,1% tổng số. Số liệu thống kê này nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết trong việc ưu tiên các chương trình nâng cao nhận thức, sàng lọc và can thiệp ung thư vú.
Ung thư tử cung theo sau với 16,9% số ca, trong khi các loại ung thư khác xảy ra với tỷ lệ thấp hơn rõ rệt, cho thấy một cơ hội quan trọng cho các sáng kiến phòng ngừa mục tiêu nhằm giải quyết hiệu quả các dạng ung thư phổ biến này.Về mặt khu vực, Benghazi ghi nhận tỷ lệ mắc cao nhất, đóng góp vào 54,8% số ca bệnh, khẳng định nhu cầu về các nguồn lực y tế được thiết kế riêng cho cộng đồng này.
Hơn nữa, sự biến thiên của các loại ung thư giữa các thành phố khác nhau gợi ý rằng các chiến lược y tế công cộng phải được tùy chỉnh để đáp ứng nhu cầu địa phương. Phân tích cũng chỉ ra tỷ lệ mắc ung thư cao hơn đáng kể ở người trưởng thành từ 51-60 tuổi, củng cố tầm quan trọng của việc phát hiện sớm và chăm sóc sức khỏe chủ động cho người lớn tuổi.Ngoài ra, việc điều tra các mối liên kết giữa nhiễm ký sinh trùng và các loại ung thư cụ thể đã làm nổi bật khía cạnh đa yếu tố của sự phát triển ung thư. Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp tục nghiên cứu và triển khai các sáng kiến y tế công cộng tùy chỉnh để giải quyết gánh nặng ung thư một cách hiệu quả. Các sáng kiến y tế nhằm giảm thiểu gánh nặng ung thư đòi hỏi sự nỗ lực phối hợp giữa các chuyên gia y tế, nhà nghiên cứu và các quan chức y tế công cộng để cải thiện kết quả chẩn đoán sớm và điều trị, từ đó cuối cùng làm giảm tỷ lệ mắc ung thư trong các cộng đồng bị ảnh hưởng.
Về khuyến nghị:
- Dành sự quan tâm nhiều hơn đến bệnh sử của bệnh nhân ung bướu, đặc biệt là các tình trạng nhiễm ký sinh trùng trước đó;
- Tổ chức các chiến dịch nâng cao nhận thức cho nhân viên y tế và xã hội về vấn đề này do tầm quan trọng của nó;
- Củng cố cơ sở hạ tầng y tế công cộng;
- Cải thiện việc tiếp cận các không gian sạch và điều kiện vệ sinh tốt để giảm thiểu các tình trạng nhiễm ký sinh trùng vốn có thể là nguyên nhân của nhiều loại ung thư;
- Tích hợp việc sàng lọc nhiễm ký sinh trùng vào các chương trình phòng chống khối u.
(còn nữa) --> Tiếp theo Phần 3
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang & CN. Nguyễn Thái Hoàng
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn