Theo Tổ chức Y tế thế giới, các bệnh do véc tơ truyền (VBDs) chiếm 17% gánh nặng ước tính trên toàn cầu của cácbệnh truyền nhiễm với hơn 700.000 trường hợp tử vong mỗi nămvà ảnh hưởng đáng kể đến những cộng đồng dân cư nghèo. Với ước tính hiện có hơn 80% dân số thế giới có nguy cơ nhiễm ít nhất một bệnh do véc tơ truyền và một nữa dân số thế giới có nguy cơ nhiễm từ hai hoặc hơn 2 bệnh do véc tơ truyền. Điều này cản trở đến phát triển kinh tế ở các khu vực, quốc gia bị ảnh hưởng thông qua các chi phí trực tiếp cho điều trị và chi phí gián tiếp như mất năng suất lao động, giảm du lịch. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu một số bệnh do véc tơ truyền gồm Leishmaniases, bệnh giun chỉ Onchocerciasis,bệnh sán máng Schistosomiasis và bệnh Chagas.
1. Bệnh Leishmaniases
Leishmaniases là bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng Leishmania spp. gây ra, với hơn 20 loài thuộc giống Leishmania và bệnh được lan truyền thông qua véc tơ là muỗi cát cái(sandfly)phlebotomine nhiễm ký sinh trùng đơn bào đốt. Có hơn 90 loài muỗi cát được biết đến là véc tơ truyền Leishmania.Người nghèo, những nơi điều kiện vệ sinh kém, suy dinh dưỡng, di biến động dân, biến đổi khí hậu và môi trường là những yếu tố làm gia tăng nguy cơ nhiễm bệnh.
Hình 1. Các véc tơ truyền bệnh do Leishmaniaspp. ở Đông Nam Á (WHO, 2020)
Bệnh do Leishmania spp. có 3 thể chính với các biểu hiện lâm sàng khác nhau gồm:
+ Thể do Leishmania spp. nội tạng (Visceral Leishmaniasis - VL), cũng được gọi là bệnh Kala-azar, bệnh có thể tử vong nếu không được điều trị, thể này chiếm hơn 95% số ca bệnh và thường có các dấu hiệu và triệu chứng gồm sốt không thường xuyên, giảm cân, gan và lách to, thiếu máu.
+ Thể do Leishmania spp. da (Cutaneous Leishmaniasis - CL) đây là thể phổ biến nhất và là nguyên nhân gây tổn thương da, chủ yếu là loét ở các bộ phận hở của cơ thể. Những tổn thương này có thể để lại sẹo suốt đời và là nguyên nhân gây ra các khuyết tật nghiêm trọng và gây kỳ thị trong cộng đồng. Khoảng 95% các ca bệnh thể CL xảy ra ở Châu Mỹ, Địa trung Hải, Trung Đông và Trung Á.
+ Thể do Leishmania spp. niêm mạc da (Mucocutaneous Leishmaniasis - ML) dẫn đến phá hủy một phần hoặc toàn bộ bề mặt niêm mạc mũi, miệng và họng.
Phương thức lan truyền
Bệnh do Leishmania spp.có nguyên nhân do ký sinh trùng Leishmania spp. với hơn 20 loài và được lan truyền thông qua muỗi cát cái Phlebotomine nhiễm đốt trên người. Muỗi cát cái đốt máu vật chủ để phát triển trứng. Có khoảng 70 loài,kể cả con người có thể là ổ chứa của các loài ký sinh trùng Leishmaniaspp. Các loài này được tìm thấy ở các khu vực nhiệt đới và ôn đới trên thế giới. Muỗi cát cái sẽ nhiễm ký sinh trùng đơn bào khi đốt người/động vật nhiễm Leishmania.
Muỗi cát sống ở những nơi tương đối mát mẽ và ẩm ướt như trong nhà, hố xí, các hầm, vết nứt tường, rác thải sinh hoạt, nơi có thực bì rậm rạp, các hốc cây, hang của động vật và ụ mối. Bệnh do Leishmaniaspp. xảy ra chủ yếu ở các vùng nông thôn, vùngbán đô thị nơi mà ký sinh trùng Leishmaniaspp. có trong ổ chứa là con người, chó và động vật khác.
Các yếu tố nguy cơ chính làm gia tăng nhiễm bệnh là do điều kiện kinh tế xã hội như nghèo đói làm tăng nguy cơ mắc bệnh do Leishmania spp. Tình trạng suy dinh dương như chế độ ăn thiếu protein-năng lượng, sắt, vitamin A và kẽm làm tăng nguy cơ nhiễm trùng tiến triển thành bệnh hoàn toàn. Di biến động dân khi nhiều người không có khả năng miễn dịch di chuyển đến những khu vực có tỷ lệ lây truyền cao.Biến đổi khí hậu và môi trường cũng làm gia tăng tỷ lệ nhiễm bệnh do những thay đổi về đô thị hóa, nạn phá rừng hoặc sự xâm nhập của con người vào các khu vực có rừng.
Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến sự lan truyền bệnh do Leishmaniaspp. thông qua những thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa, ảnh hưởng đến quy mô, phân bố địa lý quần thể muỗi cát. Hạn hán, nạn đói và lũ lụt cũng khiến người dân di cư đến những khu vực có nguy cơ lây truyền ký sinh trùng cao.
Đặc điểm sinh học của muỗi cát (Sandfly)
Hiện nay có hơn 800 loài muỗi cát đã được công nhận, khoảng 464 loài được
tìm thấy ở Tân thế giới (New World) và 375 loài ở Cổ thế giới (Old World). Việc sắp xếp bậc phân loại các loài muỗi cát ở cả Cổ và Tân thế giới trong giai đoạn trước thế kỷ 18 chủ yếu dựa trên xác định các đặc điểm cơ thể tương đồng giữa các bậc phân loại và phân bậc hơn là vì phân tích chủng loại phát sinh kiểu tổ tiên - hậu duệ.
Cách tiếp cận này đã dẫn đến sự gia tăng các lớp phân loại, đặc biệt là ở các phân nhánh, nhưng lại đơn giản hóa và gộp các bậc phân loại cao hơn vào trong loài.Muỗi cát thuộc giống Phlebotomus là nhóm côn trùng với kích thước nhỏ từ 2-4mm, được xem là véc tơ truyền nhiều bệnh nguy hiễm cho con người và động vật, nhất là truyền bệnhdo Leishmania spp., chúng phân bố ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là các quốc gia vùng khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới từ Châu Phi, Châu Mỹ đến Châu Á,…Chúng có vòng đời phức tạp, thích nghi với môi trường khắc nghiệt và tập tính đốt máu vật chủ đặc trưng.
Về mặt phân loại học của muỗi cát (Phlebotomine Sandfly)
Muỗi cátPhlebotomusthuộc giới Động vật, ngànhchân khớp (Arthropoda), lớp côn trùng (Insecta), bộ hai cánh (Diptera), họ Psychodidae, phân họ Phlebotominae (Rondani, 1840), giốngPhlebotomus, muỗi cát trưởng thành có màu vàng nhạt, dài khoảng 2-4mm, mắt to và đen, lưng gù, mang 2 cánh dài và nhọn hình mác. Cánh của muỗi cát không úpvào thân mà luôn dựng thẳng đứng, ngay cả khi ở tư thế nghỉ. Trên cánh và thânmình của muỗi cát có nhiều lông tơ, chân muỗi cát dài và mảnh, bộ phận sinh dụccủa con đực rất phát triển.
Hình 2. Muỗi cát Phlebotomus spp (Nguồn: ECDC, 2022)
Muỗi cát là loài côn trùng có vòng đời biến thái hoàn toàn. Trong chu kỳ pháttriển có 4 pha riêng biệt: Trứng, ấu trùng, nhộng và con trưởng thành. Trứng hìnhdài sẽ nở sau 4-20 ngày nhưng nếu gặp thời tiết lạnh, chúng có thể trì hoãn, ấutrùng có 12 đốt, đốt cuối có 2 lông dài và kéo dài từ 20-30 ngày để hoàn thành. Giai đoạn nhộng kéo dài từ 6-13 ngày trước khi con trưởng thành xuất hiện. Thời gian các giai đoạn phát triển phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, nguồn dinh dưỡng cũng như loài muỗi cát cụ thể.
Hình 3. Phân bố 6 loài muỗi cát tại 6 tỉnh miền Nam(Nguyễn Thùy Trang, 2024)
Muỗi cát thường hoạt động lúc chạng vạng tối và ban đêm khi nhiệt độ giảm, độ ẩm tăng. Mặc dù chúng rất hiếm khi hoạt động đốt mồi vào ban ngày, nhưng cũng có thể xảy ra ở trong nhà ở những phòng tối hoặc khu vực rậm rạp nhiều bóng cây, đặc biệt khi bị con người làm phiền. Cả muỗi cát cái và đực hút nhựa cây, mật hoa và các chất tiết có đường. Riêng muỗi cát cái cũng hút máu vật chủ để phát triển trứng và phần lớn ưa hút máu vật chủ là động vật có vú, chim, tuy nhiên cũng có một số loài ưa hút máu người. Đây là nguyên nhân chúng truyền bệnh nguy hiểm cho con người.
Các loài muỗi cát tìm thấy số lượng lớn ở các vùng nông thôn, miền núi các nước, kể cả ở Việt Nam cũng đã ghi nhận. Muỗi cát thường bay từng quãng ngắn là là mặt đất 30-40 mm và bán kính hoạt động khoảng 1,5km. Trong khi đậu nghỉ muỗi cát thường ẩn ở những hốc tối, trong hang chuột, dưới những tảng đá lớn.
Tại Việt Nam, muỗi cát khá phổ biến và có thể gặp ở nhiều sinh cảnh khác nhau. Phân bố các loài muỗi cát ở Việt Nam được Raynal và công sự công bố vào năm 1935, cuộc khảo sát diễn ra ở miền Bắc và miền Trung của Việt Nam ghi nhận sự hiện diện của muỗi cát. 224 cá thể muỗi cát của 8 loài được thu thập: Ph.stantoni: 9; Se. bailyi: 196; Se. barraudi: 1; Ph. sylvestris: 3; Se. hivernus: 9; Se. iyengari: 3; Se. morini: 2; Ph. Argentipes. Năm 2024, điều tra 6 tỉnh miền Nam, Việt Nam thu thập được 753 cá thể với 6 loài muỗi cát được xác định gồm Ph. stantoni, Sergentomyia khawi, Se. silvatica, Se. barraudi, Se. bailyi và Grassomyia indica.
Gánh nặng bệnh
Hình 4. Số ca VL và CL giai đoạn 2001-2018, bang Mato Grosso do Sul, Brazil.
Theo ước tính của TCYTTG thì có hơn 1 tỷ người đang sống ở những quốc gia lưu hành bệnh do Leishmania spp. có nguy cơ nhiễm. Với hơn 1 triệu ca mắc mớiCL, trong đó có 20.000 đến 30.000 ca tử vong mỗi năm liên quan đến bệnh do Leishmania spp. xảy ra trên toàn cầu. Tổng cộng có 4.383 ca tử vong được báo cáo trong giai đoạn 10 năm từ 2014-2023, trong đó năm 2023 có 374 ca tử vong với tất cả bệnh nhân tử vong đều thể nội tạng.
Hình 5. Phân bố thể bệnh Leishmania spp. da trên toàn cầu, 2023-2024 (WHO, 2024)
Trong đó có khoảng 50.000 - 60.000 ca mắc mới thể nội tạng xảy ra hàng năm ở Bangladesh, Brazil, Ethiopia, Ấn Độ, Nam Sudan và Sudan. Với chỉ có 25-45% ca bệnh được báo cáo lên Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2023). Bệnh có khả năng bùng phát và tử vong.
Hình 6. Số ca bệnh thể do Leishmaniaspp. ở da (CL), theo khu vực, 1999-2023(WHO, 2024)
Khoảng 95% ca bệnh thể leishmaniasis da xảy ra ở châu Mỹ, Địa Trung Hải, Trung Đông và Trung Á. Hơn 2/3 ca mắc mới thể leishmaniasis da xảy ra ở 6 quốc gia gồm Afghanistan, Algeria, Brazil, Colombia, Iran và Syria. Ước tính hàng năm có khoảng 600.000 đến 1 triệu ca mắc mới trên toàn thế giới nhưng chỉ có khoảng 200.000 ca báo cáo cho Tổ chức Y tế Thế giới.
Thể bệnh do Leishmania spp. niêm mạc xảy ra chủ yếu ở khu vực Châu Mỹ, có hơn 90% ca bệnh thể Leishmania spp. niêm mạc da xảy ra ở Bolivia, Brazil, Ethiopia và Peru.
Tại Việt Nam, bệnh không phải lưu hành rộng rãi, nhưng một số ca bệnh cũng đã được ghi nhận. Trường hợp bệnh đầu tiên được báo cáo vào năm 1978, bệnh nhân nữ sống ởLục Nam, Bắc Giang nhưng sinh tại Cẩm Giàng, Hải Dương đã tử vong ở Bệnhviện Quân y 103 có liên quan đến ký sinh trùng Leishmania spp.Tính chung từ năm 1978 đến 2018 các trường hợp bệnh được báo cáo rải rác tậptrung chủ yếu ở các tỉnhphía Bắc, Việt Nam. Tổng số 6 bệnh nhân đượcghi nhận có liên quan đến ký sinh trùng Leishmania spp., trong đó có 4trường hợp bệnh xác định có sự đồng nhiễm với HIV.
Hình 7. Bệnh do ký sinh trùng Leishmania spp. được báo cáo tại Việt Nam
(còn nữa) --> Tiếp theo Phần 2
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang, TS. Đỗ Văn Nguyên
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn