2. Bệnh giun chỉ Onchocerca (Onchocerciasis)
Bệnh giun chỉ Onchocerciasis hay còn được gọi là bệnh mù lòa đường sông thuộc nhóm các bệnh nhiệt đới bị lãng quên (NTDs). Tác nhân gây bệnh là do ký sinh trùng giun chỉ Onchocerca volvulus và chúng lan truyềntừ người bệnh sang người lành thông qua ruồi đen giống Simulium spp. nhiễm giun chỉ đốt. Khi người mắc bệnh Onchocerciasis thường có các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng tập trung nhiều ở mắt, da và khi ấu trùng di chuyển dưới dasẽ gây ra phản ứng viêm da niêm mạc khi ấu trùng chết.
Các triệu chứng gồm ngứa dữ dội, thay đổi cấu trúc da, cũng có thể gây tổn thương mắt dẫn đến suy giảm thị lực và mù vĩnh viễn. Trong hầu hết trường hợp, nốt sần dưới da hình thành xung quanh giun trưởng thành. Nhiễm sớm với giunchỉ O. volvulus có liên quan bệnh động kinh ở trẻ em. Là bệnhtruyền nhiễm phổ biến ở các quốc gia nhiệt đới trên thế giới, đặc biệt ở Châu Phi và Nam Mỹ. Bệnh truyền từ người này sang người khác thông qua ruồi đen thuộc giống Simulium spp. đốt. Giống ruồi này thường đẻ ở các dòng sông và suối chảy xiết.
Ruồi đen nuốt phải ấu trùng giun chỉ (immature worms) khi chúng đốt máu người nhiễm bệnh. Trong cơ thể ruồi đen, ấu trùng giun chỉ sẽ phát triển thành ấu trùng có khả năng lây nhiễm, sau đó lây truyền sang người khác khi ruồi đen đốt máu những lần tiếp theo. Khi ấu trùng xâm nhập vào vật chủ mới là con người, ấu trùng sẽ phát triển thành giun trưởng thành, tạo thành các nốt sần dưới da.Giun trưởng thành giao phối và sinh sản ra các ấu trùng giun chỉ di chuyển đến da, mắt, máu, các mô và khi ruồi đen đốt máu có ấu trùng giun chỉ thì ấu trùng xâm nhập vào ruột giữa, tiếp túc phát triển trong cơ thể của ruồi và vòng lan truyền mới lại bắt đầu.
Hình 8. Vòng đời của giun chỉ Onchocerca volvulus(CDC Mỹ, 2020)
Để loại bỏ quá trình lan truyền thì cộng đồng phải được điều trị trong tối thiểu 10 đến 15 năm, tương ứng với tuổi thọ của giun O. volvulus trưởng thành sống trong các nốt dưới da lên đến 15 năm. Trong khoảng thời gian này chúng có thể sản sinh ra hàng triệu ấu trùng di chuyển qua da, mắt và mô cơ quan khác của cơ thể, gây ra các triệu chứng liên quan đến bệnh.
Đặc điểm sinh học ruồi Simulium
Simulium là một giống lớn của ruồi đen (Black fly) họ Simuliidae, đây là động vật chân đốt hút máu động vật và người. Do đặc điểm hút máu để phát triển nên ruồi đen có vai trò quan trọng trong y học, một số loài thuộc giống Simulium truyền giun chỉ mù lòa đường sông Onchocerca volvulus ở Châu Phi, Trung Mỹ và Nam Mỹ, tiếp đến là loài O. dewittei japonia - mầm bệnh gây cho động vật truyền sang người, phát hiện ở Nhật Bản.
Về mặt phân loại học khoa học, ruồi Simulium thuộc giớiđộng vật, ngành chân khớp(Arthropoda), lớp côn trùng (Insecta), bộ hai cánh (Diptera), họSimuliidae, phân họ Simuliinae, giống Simulium(Latreille, 1802). Ruồi có thân đậm, cơ thể nhỏ, thường có màu đen, nhưng cũng có một số loài có màu cam hoặc màu vàng. Ruồi đen có mặt trên tất cả các châu lục và giống chính, quan trọng nhất là ruồi vàng Simulium. Ruồi đen ước tính trên thế giới có khoảng 2.432 loài, trong đó có 2.415 loài còn sống trong thế giới tự nhiên và 17 loài hóa thạch (Adler, 2025).
Ruồi Simulium damnosum Ruồi đen đang đốt trên da người
Hình 9. Hình thái ngoài ruồi Simulium và ruồi đốt người
(https://www.researchgate.net/figure/Adult-black-fly-Simulium-damnosum)
Vòng đời của ruồi đen là biến thái hoàn toàn, trải qua 4 giai đoạn phát triển khác nhaugồm trứng, ấu trùng, nhộng và con trưởng thành, với thời gian để hoàn thành vòng đời khoảng 2 tuần. Con đực và con cái có kích thước rất nhỏ, dài không quá 5 mm và chỉ con cái mới hút máu động vật và người. Màu cơ thể đa phần là đen, nhưng một số cũng có màu vàng (giống Simulium) với đôi mắt kép to và ngực gù. Quá trình phát triển ấu trùng diễn ra trong nước chảynhư sông, suối, nơi ấu trùng được dính chặt dưới đá hoặc chất hữu cơ, thực vật trên sông suối.
Hoạt động đốt máu vật chủ diễn ra vào ban ngày và đốt ngoài nhà. Do có phần miệng ngắn nên chúng không thể cắn xuyên qua quần áo, một số loài thích đốt ở một số nơi trên cơ thể như chân hoặc phần thân trên. Simulium damnosum là véc tơ chính quan trọng nhất ở Châu Phi truyền giun chỉ gây mù lòa đường sông. Ở Ethiopia, Uganda, Tanzania, Congo loài S. neavei là phổ biến. Châu Mỹ, véc tơ chính là S. metallicum, S. ochraceum, S. exiguum.
Theo báo cáo năm 2005 cho thấy có sự xuất hiện của loài Simulium damosum tại đèo Lò Xo thuộc xã Đắk Man, huyện Đắk Lei, tỉnh Kon Tum ở độ cao 1000m. Đây là véc tơ chính truyền Onchocerca volvulus. Trước năm 1960 cũng đã phát hiện loài Simulium damosum phân bố ở vùng núi miền Bắc Việt Nam.Việt Nam cũng nằm trong vùng phân bố của ruồi thuộc giống Simulium và các kết quả điều tra cũng đã phát hiện loài ruồi Simulium tại nhiều vùng khác nhau trên cả nước. Tác giả Takaoka H và cộng sự (2017) cho biết đến năm 2019, Việt Nam có 70 loài thuộc họ Simuliidae và hiện nay cũng có nhiều nghiên cứu phát hiện các loài lần đầu phát hiện tại Việt Nam. Tuy vậy, đến nay chúng ta cũng chưa nắm chính xác thành phần loài ruồi họ Simuliidae tại Việt Nam vì số điểm điều tra chưa nhiều và chưa được quan tâm nhiều như các nghiên cứu về muỗi truyền bệnh.
Gánh nặng bệnh
Trên toàn cầu, có 1.8 triệu người sống ở các khu vực không còn nhu cầu điều trị cộng đối với bệnh Onchocerciasis. Hiện nay, trên Toàn cầu tiếp tục các nổ lực hương đến loại trừ bệnh vào năm 2030.Hơn 99% người nhiễm đang sống ở Châu Phi và Yemen, 1% còn lại sống ở biên giới giữa Brazil và Venezuela. Năm 2023, có ít nhất 249,5 triệu người ở 28 nước cần được điều trị dự phòng để chống lại bệnh giun chỉ, nhưng số liệu này không bao gồm những người đang sống ở những khu vực mà tình trạng lan truyền bệnh chưa biết. Nghiên cứu gánh nặng toàn cầu bệnh ước tính trong năm 2017 có 14,6 triệu người mắc bệnh ngoài da và 1,15 triệu người mất thị lực.
Hình 10. Tỷ lệ mắc bệnh Onchocerciasis ở Châu Phi và Yemen, 2000-2018
Năm 2023, tổng cộng có 172,2 triệu người đã được điều trị bệnh, chiếm 69% phạm vi bao phủ toàn cầu.Có 5 quốc gia đã được TCYTTG cấp chứng nhận loại trừ bệnh Onchocerciasis sau khi thực hiện thành công các hoạt động loại trong nhiều thập kỷ qua gồm 4 quốc gia Châu Mỹ như Colombia (2013), Ecuador (2014), Mexico (2015) và Guatemala (2016) và 1 quốc gia Châu Phi là Niger (2025).Năm 2022, Senegal đã dừng điều trị và hiện nay đang giám sát sau điều trị. Các quốc gia gồm Guinea, Ethiopia, Mali, Nigeria, Sudan, Tanzania, Togo, Uganda và Venezuela đã dừng điều trị cộng đồng ở ít nhất một trọng điểm.
Tại Việt Nam, các loài ruồi thuộc giống Simuliumcó mặt và gặp nhiều ở Tây Bắc và Tây Nguyên. Tuy nhiên, ca mắc bệnh mù lòa đường sông chưa được báo cáo. Việc có mặt các loài ruồi Simulium spp. cùng với hội nhập khi số lượng lớn người đi du lịch, lao động đến các vùng lưu hành bệnh ở châu Phi và Nam Mỹ thì nguy cơ mang mầm bệnh về là rất cao như các trường hợp bệnh sốt rét, sán máng mang về từ châu Phi đã được ghi nhận.
Hình 11. Số ca bệnh mù lòa đường sống/100.000 dân trên Toàn cầu năm 2021
3. Bệnh sán máng (Schistosomiasis hay Bilharzia)
Bệnh sán máng là một bệnh do nhiễm ký sinh trùng cấp tính và mãn tính do các loài sánmáng thuộc giống Schistosomagây ra.Bệnh tập trung chủ yếu ở Châu Phi, khi nhiễm sán máng người bệnh có các triệu chứng khác nhau, tùy thuộc vào thể bệnh đường ruột hay niệu sinh dục. Những người sống ở những nơi điều kiện vệ sinh kém, thiếu nguồn nước an toàn và trẻ em trong độ tuổi đến trường ở những khu vực lưu hành là nhóm nguy cơ cao nhất.
Có hai dạng sán máng chính gồm sán máng đường ruột và sán máng ký sinh và gây bệnh ở hệ tiết niệu - sinh dục, nguyên nhân do 5 loài sán máng chính gây ra.
Bảng 1. Loài ký sinh trùng và phân bố địa lý của bệnh sán máng (schistosomiasis)
| Thể bệnh | Tên loài | Phân bố địa lý |
| Sán máng đường ruột | Schistosoma mansoni | Châu Phi, Đông Địa trung Hải, Caribbean, Brazil, Venezuela và Suriname |
| Schistosoma japonicum | Trung Quốc, Indonesia, Philippines |
| Schistosoma mekongi | Một vài huyện của Campuchia và Lào |
| Schistosoma guineensis và S. intercalatum | Các khu vực rừng mưa nhiệt đới của Trung Phi |
| Sán máng đường tiết niệu- sinh dục | Schistosoma haematobium | Châu Phi, Trung Đông, đảo Corsica (thuộc Pháp) |
Phương thức lan truyền bệnh
Khi ấu trùng của sán máng được thải ra bởi ốc nước ngọt, sau đó chúng sẽ xâm nhập vàoda khi da tiếp xúc với nguồn nước bị ô nhiễm ấu trùng sán máng, kết quả người đó sẽ nhiễm bệnh. Có 4 giống ốc nước ngọt là trung gian truyền bệnh, bao gồm Biomphalaria,Bulinus, Oncomelania và Neotriculavà 4 loại ốc này được coi là các véc tơ truyền sán máng schistosoma spp.
Hình 12. Vòng đời của sán máng Schistosoma spp. (CDC Mỹ, 2020)
Bệnh lan truyền xảy ra khi người nhiễm mầm bệnh làm ô nhiễm nguồn nước ngọt thông qua phân và nước tiểu chứa trứng ký sinh trùng, sau đó trứng nở trong nước.
Trong cơ thể người, ấu trùng phát triển thành sán máng (schistosomes) trưởng thành. Sán máng trưởng thành sống trong các mạch máu nơi sán cái đẻ trứng. Một số trứng được thải ra khỏi cơ thể thông qua phân và nước tiểu để tiếp tục vòng đời phát triển ký sinh trùng. Các trứng còn lại bị dính vào các mô của cơ thể gây ra các phản ứng miễn dịch và dần dần gây tổn thương đến các mô và cơ quan của cơ thể người nhiễm.
Nhiều loài động vật khác nhau như gia súc, chó, mèo, các loài gặm nhấm, lợn, ngựa và dê đóng vai trò là vật chủ chứa của loài S. japonicum và chó là vật chủ chứa của S. mekongi. S. mansoni cũng thường được tìm thấy ở các loài linh trưởng hoang dã tại các vùng lưu hành bệnh nhưng chủ yếu được coi là ký sinh trùng ở người chứ không phải là bệnh truyền từ động vật sang người (CDC Mỹ, 2024).
Mọi người mắc bệnh sán máng đều thông qua tiếp xúc nhiều lần với nước ngọt trong quá trình lấy nước, giặt giũ, tắm rửa, đánh cá, tươi tiêu, bơi lội và các hoạt động giải trí. Các cộng đồng không được tiếp cận với nước uống an toàn và vệ sinh có nguy cơ nhiễm trùng cao nhất. Do vậy, sự cần phải lập kế hoạch cẩn thận để đảm bảo rằng các chương trình phát triển nguồn nước, đặc biệt là các chương trình thủy lợi, không góp phần vào việc lây lan bệnh sán máng.
Đặc điểm sinh học của các ốc là vật chủ trung gian
Về mặt phân loại học các giống ốc là vật chủ trung gian của sán máng, hiện nay có nhiều trường phái về phân loại, tuy nhiên, đây là phân loại phổ biến của các ốc. Các loại ốc thuộc lớp Gastropoda phong phú và đa dạng, phân bố trên toàn thế giới ở nhiều môi trường khác nhau, với loài ốc là vật chủ trung gian của sán máng sống chủ yếu ở môi trường nước ngọt nhiều mùn và thủy sinh.
Hình 13. Vòng đời sán máng Schistosoma mansoni (Nguồn: Natural History Museum)
Bảng 2. Phân loại các giống ốc là vật chủ trung gian của các loài sán máng
(Nguồn: Animaldiversity and Wikipedia)
Các loài ốc được xem là vật chủ trung gian của các loài sán máng Schistosoma spp. ở người là ốc thuộc giốngBiomphalaria (S. mansoni), Oncomelania (S. japonicum), Bulinus (S. haematobium, S. intercalatum, S. guineensis). Vật chủ trung gian duy nhất được biết đến của sán máng S. mekongi là Neotricula aperta.
Hình 14. Ba vật chủ là ốc trung gian của sán máng
(Từ trái, Bulinus truncatus truncatus- vật chủ của S. haematobium;Biomphalaria glabrata - vật chủ của S. mansoni và Oncomelania hupensis hupensis- vật chủ trung gian của S. japonicum từ Trung Quốc) (https://journals.plos.org/plosntds/journal.pntd.0000267)
Những ốc này được tìm thấy sống trong môi trường nước ngọt chảy chậm hoặc tù đọng như ao hồ, các kênh tưới tiêu và sông với thảm thực vật thủy sinh phong phú. Chúng phổ biến nhất ở các vùng nước nông nơi có nhiều thực vật thủy sinh, trong vùng nước bị ô nhiễm vừa phải với các chất hữu cơ, chẳng hạn như nước thải, như thường xảy ra gần nơi ở của con người.
Đây là những khu vực phổ biến mà ốc và Schistosoma spp. cùng tồn tại để duy trì lan truyền toàn bộ các loài sán máng.
Gánh nặng bệnh
Tổ chức Y tế Thế giới ước tính có ít nhất 251,4 triệu người cần được điều trị dự phòng trong năm 2021, trong số này có 75,3 triệu người đã được điều trị. Điều trị dự phòng nên được lập lại trong nhiều năm sẽ làm giảm và ngăn chặn bệnh tật.
Lan truyền bệnh sáng máng đã được báo cáo ở 78 quốc gia. Tuy nhiên, điều trị dự phòng bệnh sáng máng cho người dân và cộng đồng mục tiêu trên diện rộng chỉ yêu cầu thực hiện ở 51 quốc gia có lan truyền trung bình và cao. Khi nhiễm bệnh thì cơ thể sẽ phản ứng với trứng sáng gây đau bụng, thiếu màu, tổn phương các cơ quan.
Bệnh sán máng là một bệnh ký sinh trùng phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt ở các cộng đồng nghèo không tiếp cận được với nguồn nước uống an toàn và điều kiện vệ sinh không đầy đủ. Ước tính có khoảng 229 triệu người nhiễm bệnh trên toàn thế giới, trong đó có ít nhất 90% người cần được điều trị bệnh sán máng sống ở châu Phi.
Khi mắc bệnh sán máng mạn tính sẽ làm giảm khả năng lao động và trong một số trường hợp có thể dẫn đến tử vong. Ở trẻ em, bệnh sán máng có thể gây thiếu máu, còi cọc và giảm khả năng học tập. Ước tính có hơn 200.000 ca tử vong mỗi năm là do bệnh sán máng ở cận Sahara châu Phi. Gánh nặng bệnh tật do bệnh sán máng bị đang bị đánh giá thấp.
Hình 15. Tỷ lệ dân số toàn cầu cần được điều trị dự phòng bằng thuốc chống lại sán máng báo cáo cho TCYTTG vào năm 2023 (WHO, 2024)
Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á, khu vực đã và đang nơi lưu hành bệnh sán máng, đặc biệt tại các quốc gia giáp với Việt Nam đều ghi nhận nhiều ca mắc sán máng như Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan. Tại Việt Nam, đây là bệnh hiếm gặp, dù nhiều nghiên cứu trước đó cũng ghi nhận sự có mặt các vật chủ trung gian như ốc Oncomelania spp. là vật chủ trung gian của S.japonicum ở Trung Quốc, Maningilla spp. và Neotricula aperta là vật chủ trung gian của sán máng S.mekongi như ở Campuchia và Lào.
Đến nay,Việt Nam cũng đã ghi nhận một số ca mắc sán máng, kể trong nước như ở Đắk Lắk (Huỳnh Hồng Quang và cs., 2007) trên bệnh nhân có tiền sử đi nước ngoài trở về, tiếp sau đó tại TP. Hồ chí Minh đã ghi nhận gần 10 ca trong 3 năm và phần lớn các bệnh nhận này có yếu tố dịch tễ liên quan đến giao lưu biên giới nước ngoài hay đi từ nước ngoài trở về. Cách nay 10 năm, báo cáo của Nguyễn Văn Đề và cộng sựu (2019) cho biết đã xác định 04 bệnh nhân người Việt Nam nhiễm S. haematobium trở về từ Angola. Tất cả các bệnh nhân đều cảm thấy đau bàng quang và tiểu máu (nước tiểu có máu), và một trong số họ được chẩn đoán mắc ung thư bàng quang, cần phải phẫu thuật cho bệnh nhân đó. Trứng sán máng, được thu thập từ nước tiểu của bốn bệnh nhân, được xác định là loài S. haematobium bằng các phương pháp hình thái và phân tử. Những bệnh nhân này là một trong những báo cáo đầu tiên về sán máng Schistosomaspp. ở Việt Nam.
(còn nữa) --> Tiếp theo Phần 3
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang, TS. Đỗ Văn Nguyên
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn