Tác động môi trường
Việc phản đối sử dụng công nghệ chỉnh sửa gen chủ yếu xuất phát từ nỗi lo ngại gây hại cho môi trường, hoặc thông qua việc tuyệt chủng một loài hoặc thông qua những mối đe dọa tiềm tàng mà chính công nghệ chỉnh sửa gen có thể gây ra cho môi trường. Những vấn đề này sẽ được thảo luận trong các phần tiếp theo.
Tác động của việc loại trừ muỗi An. gambiae
Ngoài việc là nguồn thức ăn cho các loài khác, côn trùng, bao gồm cả muỗi, còn chịu trách nhiệm thụ phấn cho phần lớn các loại cây trồng và thực vật. Đến lượt chúng lại cung cấp thức ăn cho nhiều loài động vật (Van der Sluijs và Vaage, 2016). Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, trọng tâm là việc loại bỏ muỗi An. gambiae. Do đó, chỉ cần nghiên cứu vai trò của loài muỗi Anopheles này trong hệ sinh thái bản địa của chúng.Tác động của việc loại bỏ một loài có thể được xác định thông qua những tổn thất mà nó gây ra (Gascon và cs., 2015). Người ta chưa biết nhiều về tác động thụ phấn của muỗi A. gambiae , nhưng các nghiên cứu chỉ ra rằng An. gambiae không đóng vai trò thiết yếu trong chu trình thức ăn (Collins và cs., 2018 ). Tuy nhiên, đôi khi rất khó xác định tổn thất do sự tương tác phức tạp trong hệ sinh thái (Gascon và cs., 2015).
Nhìn chung, đa dạng sinh học cao là một chỉ báo về hệ sinh thái khỏe mạnh và môi trường ổn định (Ủy ban Châu Âu, 2019). Điều này liên quan đến khái niệm về tính dư thừa, đến mức độ mà các loài khác có thể đảm nhận các chức năng trong một hệ thống nếu các loài khác biến mất (Rosenfeld và cs., 2002 ).
Trong trường hợp loại bỏ An. gambiae, điều này có nghĩa là sự biến mất của nó sẽ làm giảm đa dạng sinh học và tính dư thừa trong hệ sinh thái. Tuy nhiên, tính dư thừa trong hệ sinh thái rất có thể có nghĩa là các chức năng của loài muỗi này sẽ được đảm nhận, trung hòa tác động có hại của việc tuyệt chủng của nó. Đa số các chuyên gia đều đồng ý rằng tác động lên hệ sinh thái địa phương khi một loài muỗi biến mất sẽ không đáng kể (Fang và cs., 2010). Trước khi muỗi biến đổi gen được thả ra, cần phải tiến hành các thử nghiệm thực địa để có cái nhìn tổng quan toàn diện về sự phụ thuộc sinh thái vào loài muỗi A. gambiae. Gần đây, Target Malaria - một tổ chức phi lợi nhuận được Quỹ Bill & Melinda Gates tài trợ, tập trung vào việc tìm kiếm các giải pháp dẫn truyền gen chống lại bệnh sốt rét, đã nhận được một khoản tài trợ cho một nghiên cứu kéo dài bốn năm từ Open Philanthropy- một quỹ nghiên cứu. Trong số những nội dung khác, nghiên cứu này sẽ điều tra các tác động sinh thái tiềm tàng của biến mất loài muỗi A. gambiae (Open Philanthropy, 2017; Target Malaria, 2020). Các nghiên cứu về tác động môi trường và nghiên cứu khác sẽ xác định tác động của việc thả muỗi biến đổi gen vào tự nhiên.

Hình 5. Liệu việc phân tán muỗi chuyển đổi gen có thể làm dừng muỗi và giúp các nhà khoa học chống lại các bệnh truyền nhiễm hay không?
Nguồn: https://globalnews.ca/video/8007354/can-genetically-modified-mosquitoes-help-fight-vector-borne-diseases-like-malaria
Tác động của công nghệ dẫn truyền gen
Việc sử dụng công nghệ chỉnh sửa gen dựa trên CRISPR đã gây ra nhiều tranh cãi do tính chất tự sao chép và khả năng không thể đảo ngược của nó (Cisnetto và Barlow, 2020 ). Tuy nhiên, cần xem xét các biện pháp hiện tại đang được áp dụng để phòng chống sốt rét nhằm đánh giá chính xác tác động của công nghệ chỉnh sửa gen. Nếu các biện pháp hiện tại PCSR rét gây ra nhiều tác hại hơn so với việc loại bỏ loài muỗi An. gambiae hoặc sử dụng công nghệ chỉnh sửa gen, thì cần khuyến khích phát triển các công nghệ chỉnh sửa gen.
Hai hình thức kiểm soát vector truyền bệnh chính hiện nay là sử dụng màn tẩm hóa chất chống muỗi và phun hóa chất tồn lưu trong nhà (WHO, 2020). Các loại hóa chất được sử dụng không phân biệt giữa các loài muỗi khác nhau và cũng nhắm mục tiêu vào các loài không truyền bệnh cho người (Hammond và Galizi, 2017 ). Mặt khác, chúng cũng nhắm mục tiêu vào các loài muỗi truyền các bệnh khác. Công nghệ biến đổi gen nhắm mục tiêu vào một loài cụ thể và do đó có thể được coi là một công nghệ có tác động tiêu cực giảm thiểu đến đa dạng sinh học. Tuy nhiên, lợi thế này sẽ biến mất nếu xảy ra lai giống hoặc chuyển gen ngang giữa muỗi An. gambiae biến đổi gen và các loài muỗi có liên quan. Để ngăn chặn điều này, cần phải thực hiện các chiến lược kiểm soát thông qua các ràng buộc phân tử nhằm loại bỏ mối đe dọa lây lan của công nghệ biến đổi gen sang các loài không phải mục tiêu (Naegeli và cs., 2020 ).
Một lập luận phổ biến chống lại công nghệ chỉnh sửa gen dựa trên CRISPR là chúng gây ra những thay đổi không thể đảo ngược trong gen. Tuy nhiên, khả năng kháng hóa chất đang được phát triển bởi các loài muỗi Anopheles spp. cũng tạo ra những thay đổi di truyền trong gen của chúng với những tác động tiềm tàng đến môi trường (Nkya và cs., 2013). Mặt khác, khả năng kháng lại công nghệ chỉnh sửa gen cũng có thể được phát triển bởi muỗi biến đổi gen (Genetically modified Mosquitoes-GMM), điều này có thể gây hại cho môi trường (Unckless, Clark và Messer, 2017). Hóa chất rất có thể vẫn phải được sử dụng để phòng chống các bệnh do muỗi truyền khác như sốt xuất huyết, Zika hoặc sốt vàng da, nhưng nếu các muỗi đã biến đổi gen () được thả vào môi trường, điều này rất có thể dẫn đến việc giảm sự phụ thuộc vào các loại hóa chất này (Hammond và Galizi 2017 ). Hơn nữa, các yếu tố di truyền mới có thể đảo ngược quá trình chỉnh sửa gen, bác bỏ tính không thể đảo ngược của công nghệ này (Xu và cs., 2020 ). Tóm lại, khi công nghệ liên tục được cải tiến, một số lập luận hiện tại chống lại công nghệ chỉnh sửa gen sẽ không còn phù hợp nữa.
Việc tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu rủi ro trong các can thiệp y tế công cộng không phải là điều dễ dàng. Không có can thiệp nào không có rủi ro, vì vậy cần phải áp dụng nguyên tắc cân nhắc rủi ro. Rủi ro môi trường tiềm tàng và lợi ích sức khỏe cộng đồng, như việc giảm đáng kể sự lây lan của bệnh sốt rét, phải được cân bằng với nhau. Câu hỏi đặt ra là liệu có thể chấp nhận được việc thúc đẩy sức khỏe cộng đồng bằng cách hy sinh môi trường hay không. Cũng cần phải tính đến việc khi môi trường bị tổn hại, sức khỏe cộng đồng thường cũng bị ảnh hưởng. Do đó, cần phải đưa ra quyết định về mức độ tác động nào là cho phép, trước khi coi việc tiếp tục là phi đạo đức. Nói cách khác, chúng ta nên chấp nhận những tác động không mong muốn bổ sung nào để đạt được mục tiêu xóa bỏ bệnh sốt rét? TCYTTG khuyến nghị đánh giá rủi ro đối với việc thả muỗi biến đổi gen trong khung hướng dẫn thử nghiệm muỗi biến đổi gen. TCYTTG chỉ ra rằng ở các quốc gia có chính sách môi trường quốc gia và mục tiêu bảo vệ, những điều này nên xác định ngưỡng rủi ro có thể chấp nhận được. Một tiêu chuẩn chung có thể được sử dụng cũng được đề cập: “liệu việc triển khai muỗi biến đổi gen cụ thể có 'gây hại nhiều hơn' so với quần thể muỗi hoang dã được quản lý theo thực tiễn hiện hành hay không” (WHO, 2014). Tiêu chuẩn này trước đây đã được sử dụng ở Úc để thả muỗi Aedes aegypti mang vi khuẩn Wolbachia nhằm chống lại bệnh sốt xuất huyết (Murphy và Jansen, 2010).

Hình 6. Các hồ sơ sản phẩm của TCYTTG, bao gồm khía cạnh muỗi kháng hóa chất – Nên cân nhắc nhiều khía cạnh khác nhau|
Nguồn: https://www.frontiersin.org/journals/tropical-diseases/
Một nguyên tắc giảm thiểu rủi ro khác có thể được sử dụng là nguyên tắc phòng ngừa. Nguyên tắc phòng ngừa nhấn mạnh việc ra quyết định mang tính phòng ngừa nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng hoặc môi trường khi có rủi ro có thể xảy ra (Ủy ban Châu Âu, 2000; WHO, 2014). Nó thúc đẩy hành động phòng ngừa hơn là hành động phản ứng. Trách nhiệm thuộc về những người đề xuất biện pháp, có nghĩa là họ phải chứng minh rằng công nghệ đó an toàn chứ không phải các bên khác phải chứng minh rằng nó không an toàn (Pearce, 2004). Công ước về Đa dạng Sinh học nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp tiếp cận phòng ngừa khi có mối đe dọa đối với đa dạng sinh học do các sản phẩm của sinh học tổng hợp gây ra (Hội nghị các bên tham gia Công ước về Đa dạng Sinh học, 2012). Tuy nhiên, việc giải thích nghiêm ngặt nguyên tắc này ngụ ý rằng “không nên cấp phép theo quy định cho đến khi tất cả vấn đề rủi ro và an toàn có thể xảy ra hoặc trên lý thuyết được giải quyết một cách khoa học, bất kể nhu cầu xã hội và lợi ích tiềm năng” (WHO, 2014). Điều này đã bị chỉ trích nặng nề do tác động cản trở đổi mới của nó, vì việc chứng minh sự an toàn hoàn toàn là gần như không thể.
Các cách hiểu khác về nguyên tắc phòng ngừa ít e ngại rủi ro hơn và sẽ ủng hộ các nỗ lực diệt trừ. Ví dụ, Resnik (2021) cho rằng cộng đồng nên quyết định liệu lợi ích của việc thả muỗi biến đổi gen có vượt trội hơn rủi ro hay không. Ostera và Gostin (2011) nhấn mạnh sự cần thiết của các lộ trình quản lý mới và việc thành lập một cơ quan hiệp ước mới. Họ lập luận rằng “nếu bằng chứng khoa học chứng minh việc giảm đáng kể bệnh tật với rủi ro sinh thái thấp, thì nguyên tắc phòng ngừa không nên cản trở những lợi ích có ý nghĩa đối với sức khỏe con người”.
Tóm lại, việc diễn giải nghiêm ngặt nguyên tắc phòng ngừa không đủ để giảm thiểu rủi ro khi thảo luận về việc xóa bỏ bệnh sốt rét. Tác động tiêu cực của bệnh sốt rét quá lớn đến mức không thể bỏ qua bất kỳ rủi ro nào trong nỗ lực chống lại nó. Một đánh giá rủi ro, như khuyến nghị của TCYTTG, hoặc một cách diễn giải nhẹ nhàng hơn về nguyên tắc phòng ngừa, đã tính đến lập luận này và do đó nên được áp dụng.
(còn nữa) --> Tiếp theo Phần 3
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang& CN. Nguyễn Thái Hoàng
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn