2.5. Bệnh ấu trùng sán dây lợn: Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ
Các ước tính về tỷ lệ mắc (tỷ lệ huyết thanh dương tính) bệnh ấu trùng sán dây lợn (ATSDL) có sự biến thiên đáng kể tùy thuộc vào địa điểm và phương pháp chẩn đoán được sử dụng. Tỷ lệ mắc bệnh đánh giá qua xét nghiệm kháng thể nhìn chung cao hơn so với các chỉ số đo lường tỷ lệ mắc khác, do phương pháp chẩn đoán này ghi nhận mức độ tiếp xúc (exposure) thay vì tình trạng nhiễm trùng hoạt động (active infection), với ước tính tỷ lệ huyết thanh dương tính dao động từ 3,2% đến 76% (Rodriguez-Canul và cs., 1998; Garcia và cs., 1999, 2003a; Widdowson và cs., 2000; Sakai và cs., 2001; Moro và cs., 2003; Lescano và cs., 2007, 2019; Jayashi và cs., 2012b; Mohan và cs., 2013; Pray và cs., 2017; Morales và cs., 2018; Ng-Nguyen và cs., 2018a,b; Rojas và cs., 2019).
Việc đo lường kháng nguyên liên quan chặt chẽ hơn đến việc phản ánh chỉ số nhiễm trùng hoạt động, với tỷ lệ huyết thanh dương tính dao động từ 4,7% đến 59% (Carrique-Mas và cs., 2001; Sikasunge và cs., 2008c; Assana và cs., 2010a; Pondja và cs., 2010; Ganaba và cs., 2011; Krecek và cs., 2012; Komba và cs., 2013; Mohan và cs., 2013; Braae và cs., 2014; Wardrop và cs., 2015; Kungu và cs., 2017b; Madinga và cs., 2017; Adenuga và cs., 2018; Maganira và cs., 2019; Rojas và cs., 2019). Tỷ lệ mắc bệnh được ước tính qua việc quan sát trực tiếp nang sán thông qua phương pháp khám lưỡi (lingual palpation) dao động từ 5,85% đến 33% (Rodriguez-Canul và cs., 1999; Morales và cs., 2002, 2006, 2008a; Ngowi và cs., 2004, 2010; Sikasunge và cs., 2007, 2008; Gweba và cs., 2010; Komba và cs., 2013; Mushonga và cs., 2018). Tỷ lệ mắc bệnh ghi nhận qua mổ khám tử thi hoặc kiểm soát thịt (bao gồm cả hồi cứu hồ sơ) dao động từ 3,94% đến 29,10% (Porphyre và cs., 2015, 2016; Pray và cs., 2017; Mushonga và cs., 2018; Adesokan và Adeoye, 2019; Lescano và cs., 2019; Poudel và cs., 2019).
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá các yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng nhiễm ATSDL T. solium (Bảng 2). Trên khắp khu vực cận Sahara thuộc Châu Phi, Trung-Nam Mỹ và Châu Á, các nghiên cứu cho thấy hình thức chăn nuôi, trong đó chủ yếu là phương thức thả rông, có liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ tiếp xúc/nhiễm ATSDL thể hiện qua tỷ lệ dương tính (huyết thanh) dựa trên kháng thể, kháng nguyên, khám lưỡi và kiểm soát thịt (OR dao động từ 1,68 đến 42 qua các nghiên cứu, giá trị p < 0,05) (Sikasunge và cs., 2007; Pondja và cs., 2010; Mohan và cs., 2013; Shonyela và cs., 2017; Morales và cs., 2018; Mushonga và cs., 2018).
Tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng nguyên cũng liên quan có ý nghĩa thống kê với việc thiếu chuồng nuôi heo (OR = 0,446, 95% CI = 0,231-0,860) (Assana và cs., 2010a) và tỷ lệ dương tính (huyết thanh) qua khám lưỡi/kháng nguyên có liên quan có ý nghĩa thống kê với các khoảng thời gian người chăn nuôi cho phép heo đi rông tự do (OR = 2,1, 95%CI = 1,3-3,6) (Komba và cs., 2013). Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến loại vật liệu sử dụng và kết cấu chuồng heo cũng liên quan có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ dương tính. Tại Tanzania, tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng nguyên đã được ghi nhận có mối tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê với: a) Sự hiện diện của sàn gỗ hở, nâng cao (OR = 8,4, 95%CI = 1,0-70,0) (Komba và cs., 2013); b) Heo được nuôi trong chuồng sàn cao (OR = 5,33, 95%CI = 1,08-32,27), và c) Nền chuồng bằng đất so với nền xi măng (OR = 9,87, 95%CI = 1,29-114,55) (Braae và cs., 2015a). Bên cạnh đó, loại thức ăn cũng được báo cáo là một yếu tố nguy cơ quan trọng (ví dụ: cho ăn vỏ khoai tây nghi ngờ bị nhiễm trứng sán; OR = 3,45, 95%CI = 1,43-8,79), cũng tại Tanzania (Braae và cs., 2015a).
Sự sẵn có/sử dụng nhà tiêu và điều kiện vệ sinh kém cũng được xác định là những yếu tố nguy cơ quan trọng. Tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng nguyên liên quan có ý nghĩa thống kê với việc (không) sử dụng nhà tiêu tại Tanzania (OR = 2,04, khoảng tin cậy Bayesian 95% (95% BCI) = 1,25-3,45) trong một nghiên cứu (Ngowi và cs., 2004) và một nghiên cứu khác (OR = 5,98, 95% CI = 1,33–43,02) (Braae và cs., 2015a), trong khi tập quan phóng uế bừa bãi ngoài trời cũng liên quan có ý nghĩa tại Tanzania (p = 0,0001) (Shonyela và cs., 2017). Tương tự, tỷ lệ dương tính với kháng nguyên liên quan có ý nghĩa thống kê với việc (không) sử dụng nhà tiêu tại Nam Phi (p = 0,006) (Krecek và cs., 2012) và Uganda (có khả năng sử dụng nhà tiêu; OR = 0,576, 95%CI = 0,389–0,853) (Kungu và cs., 2017a). Tại Mexico, tình trạng không có nhà tiêu liên quan có ý nghĩa với tỷ lệ dương tính qua khám lưỡi (hai nghiên cứu; OR = 2,37, giá trị p = 0,005 (Widdowson và cs., 2000) và OR = 2,4, giá trị p < 0,001 (Morales và cs., 2008a). Tại Peru, sự hiện diện của nhà tiêu trong các hộ gia đình làm giảm tỷ số chênh huyết thanh dương tính với kháng thể (OR = 0,51, 95% CI = 0,39-0,67) (Jayashi và cs., 2012b) (tóm tắt trong Bảng 2). Sau cùng, tỷ số chênh huyết thanh dương tính với kháng nguyên giảm đáng kể khi cải thiện các thực hành vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường tại Tanzania (OR = 0,19, 95% CI = 0,04–0,34) (Maganira và cs., 2019).
Nguồn cung cấp nước cũng được xác định là một yếu tố nguy cơ quan trọng; ví dụ, kết quả sờ nắn lưỡi/dương tính với kháng nguyên (huyết thanh) có mối liên quan ý nghĩa với việc thu gom nguồn nước tại Tanzania (OR = 3,1, 95%CI = 1,6-6,3) (Komba và cs., 2013). Tỷ lệ dương tính huyết thanh với kháng nguyên liên quan nghịch một cách có ý nghĩa với việc cung cấp các nguồn nước an toàn (đóng vai trò là một yếu tố bảo vệ) tại Uganda (OR = 0,525, giá trị p = 0,350-0,787) (Kungu và cs., 2017a). Các yếu tố quan trọng khác liên quan đến tỷ lệ dương tính với kháng nguyên bao gồm hiểu biết về chu kỳ truyền bệnh, vốn đóng vai trò là yếu tố bảo vệ trong các hệ thống chăn nuôi lợn quy mô hộ gia đình ở Uganda (OR = 0,476, 95%CI = 0,291-0,779) (Kungu và cs., 2017a) và Cameroon (OR = 0,360, 95% CI = 0,130-0,940) (Assana và cs., 2010a). Tình trạng quá tải hộ gia đình với trên sáu người (OR = 1,75, giá trị p = 0,034) (Widdowson và cs., 2000) và sự yếu thế về kinh tế - xã hội (Morales và cs., 2018) (OR = 1,95; p = 0,001) có liên quan có ý nghĩa với tỷ lệ dương tính huyết thanh với kháng thể bệnh ấu trùng sán dây ở lợn tại Mexico.
Bảng 2. Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh ấu trùng sán dây lợn T. solium ở lợn
| Khu vực | Chăn nuôi lợn (hệ thống chăn nuôi, tập tính thả rông, vật liệu, chuồng trại, thức ăn) | Vệ sinh và sử dụng nhà tiêu | Yếu tố trong chuỗi thực phẩm (kiểm soát giết mổ; chế biến; tiêu thụ, buôn bán) | Các yếu tố kinh tế - xã hội khác (tình trạng quá tải hộ gia đình, sự yếu thế/bên lề xã hội) | Các yếu tố liên quan đến tuổi và/hoặc giới tính | Giống | Yếu tố địa lý (tính không đồng nhất về sử dụng đất, hệ thống sản xuất) | Cụm không gian | Biến thiên theo mùa |
| Châu Phi | Sikasunge và cs., 2007** Assana và cs., 2010a** Pondja và cs., 2010** Komba và cs., 2013** Braae và cs., 2015a** Mushonga và cs., 2018** Shonyela và cs., 2017** Maganira và cs., 2019* | Ngowi và cs., 2004** Krecek và cs., 2012** Komba và cs., 2013** Braae và cs., 2015a** Kungu và cs., 2017a** Shonyela và cs., 2017** Maganira và cs., 2019** | Sikasunge và cs., 2007** Assana và cs., 2010a** Kungu và cs., 2017a** Shonyela và cs., 2017** Mushonga và cs., 2018 | | Pouedet và cs., 2002** Pondja và cs., 2010** Gweba và cs., 2010** Komba và cs., 2013** Wardrop và cs., 2015 Shonyela và cs., 2017** | Sikasunge và cs., 2008c** Porphyre và cs., 2015** Kungu và cs., 2017a** | Praet và cs., 2010c** Kungu và cs., 2017a** Wardrop và cs., 2015** | Ngowi và cs., 2010** Madinga và cs., 2017** | Braae và cs., 2014** Porphyre và cs., 2015** Maganira và cs., 2019** |
| Trung/Nam Mỹ | Rodriguez-Canul, 1999** Widdowson, 2000** Morales, 2008a**, 2018** Rojas, 2019 | Widdowson, 2000** Sakai, 2001 Morales, 2006, 2008a** Jayashi, 2012b** Rojas, 2019 | Sakai và cs., 2001 | Widdowson và cs., 2000* Morales và cs., 2018* | Carrique-Mas, 2001* Morales., 2002* Garcia, 2003a Morales, 2006** Jayashi, 2012b** | Morales và cs., 2006, 2018* | Garcia và cs., 1999** Jayashi và cs., 2012b | Sarti-Gutierrez, 1988** Sarti, 1992 Widdowson, 2000 García, 2003a** Lescano, 2007** Pray 2017** | |
| Châu Á | Mohan và cs., 2013** Holt và cs., 2016 | | | | | | | Adenuga và cs., 2018* | Adenuga, 2018** Ng-Nguyen, 2018a** |
** Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê được xác định qua phân tích thống kê chính thức dùng để kiểm định mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ hoặc trong phân tích thống kê không gian; *Ở ngưỡng có ý nghĩa nhưng chưa đạt mức có ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu sử dụng Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) để theo dõi tập tính thả rông/di chuyển tự do: tại miền Tây Kenya (Thomas và cs., 2013); tại miền Bắc Peru (Pray và cs., 2017, 2019).
Tuổi của vật chủ lợn được xác định là một yếu tố nguy cơ đối với tình trạng dương tính huyết thanh với kháng nguyên tại khu vực Châu Phi cận Sahara, trong đó nguy cơ gia tăng theo tuổi tại Mozambique (OR = 1,63; 95%CI = 1,13-2,37) (Pondja và cs., 2010) và Tanzania (OR = 1,9; 95% CI = 1,2-3,0) (Komba và cs., 2013). Tại Cameroon, tỷ lệ lưu hành huyết thanh cao hơn đáng kể có liên quan đến lợn trên 1 tuổi (Pouedet và cs., 2002). Tại Bolivia, lợn trên hai năm tuổi có liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng dương tính huyết thanh với kháng nguyên so với lợn ở độ tuổi từ 2-7 tháng (OR = 3,83; 95%CI = 1,01–16,31) (Carrique-Mas và cs., 2001). Tại Peru, nguy cơ dương tính huyết thanh với kháng thể tăng có ý nghĩa 7% cho mỗi tháng tuổi tăng thêm của lợn (OR = 1,07; 95%CI = 1,05-1,09) (Jayashi và cs., 2012b). Trong một nghiên cứu riêng biệt khác cũng tại Peru, tỷ lệ dương tính huyết thanh với kháng thể tăng đơn điệu theo độ tuổi (tương tự ở cả hai giới), mặc dù điều này chưa được kiểm định thống kê (Garcia và cs., 2003b). Kết quả dương tính khi sờ nắn lưỡi cũng liên quan có ý nghĩa với độ tuổi tăng dần tại Nigeria (p < 0,05) (Gweba và cs., 2010) và Mexico (p< 0,05) (Sarti và cs., 1992). Dữ liệu mổ khám tử thi cũng ủng hộ xu hướng này.
Tại Peru, tỷ số chênh dương tính khi mổ khám tử thi gia tăng có ý nghĩa liên quan đáng kể với tuổi của lợn đối với bất kỳ mức độ nhiễm bệnh nào, với các tỷ số OR tương ứng cho mỗi tháng tuổi tăng thêm như sau: Cường độ nhiễm thấp (>1 nang sán; OR = 1,08, 95% CI = 1,04-1,12), nhiễm trung bình - nặng (>10 nang sán; OR = 1,08, 95% CI = 1,03-1,13) và nhiễm nặng (>100 nang sán; OR = 1,08, 95% CI = 1,01–1,14) (Pray và cs., 2017). Mặt khác, các nghiên cứu tại Honduras (Sakai và cs., 2001) và Mexico (Widdowson và cs., 2000) không tìm thấy mối liên quan giữa tuổi của lợn và tỷ lệ dương tính huyết thanh với kháng thể, trong khi một nghiên cứu tại Mexico (Rodriguez-Canul và cs., 1999) cho thấy tỷ lệ dương tính huyết thanh với kháng thể giảm có ý nghĩa theo độ tuổi (kiểm định khi bình phương cho xu hướng = 7,803; giá trị p = 0,006), với mức độ tiếp xúc cao nhất ghi nhận ở nhóm tuổi nhỏ nhất. Các bộ dữ liệu mổ khám tử thi khác, chẳng hạn như từ Nepal (Sah và cs., 2017; Poudel và cs., 2019), cho thấy tỷ lệ lưu hành không gia tăng theo tuổi. Do các đặc điểm phân bố theo độ tuổi này chỉ giới hạn ở những gia súc đạt độ tuổi giết mổ lấy thịt, rất khó để suy ra xu hướng trên toàn bộ dải tuổi.
Giới tính của lợn cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng ở một số bối cảnh, với lợn cái nhìn chung có nguy cơ nhiễm bệnh cao hơn. Các bằng chứng này bao gồm: a) tỷ lệ dương tính huyết thanh với kháng nguyên ở lợn cái cao hơn tại Tanzania (giá trị p = 0,01); b) tỷ số chênh cao hơn ở lợn nái sinh sản tại Kenya (OR = 10,35, giá trị p = 0,01) (Wardrop và cộng sự, 2015); c) tỷ số chênh dương tính với kháng nguyên ở lợn cái cận ngưỡng có ý nghĩa thống kê tại Tanzania (OR = 1,51, 95% CI = 0,99–2,33) (Braae và cs., 2014), và d) Tỷ lệ lưu hành ở lợn cái cao hơn so với lợn đực tại Nigeria (Gweba và cs., 2010), mặc dù nghiên cứu sau cùng chưa kiểm định ý nghĩa thống kê. Việc nuôi lợn cái lâu hơn cho mục đích sinh sản như đề xuất của Khaing và cộng sự (2015) tại Myanmar, cũng như đã được chứng minh làm tăng đáng kể tỷ lệ lưu hành qua sờ nắn lưỡi từ 28% lên 59% tại Mexico (p < 0,001) (Morales và cs., 2002), do đó có thể cung cấp một cơ chế giải thích cho hiện tượng này. Đáng chú ý, trong một nghiên cứu tại Mexico, việc hoạn lợn đực đã làm tăng đáng kể tỷ lệ lưu hành từ 23% lên 50% (p < 0,001) (Morales và cs., 2002).
Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã không tìm thấy mối liên quan giữa giới tính của lợn và tỷ lệ lưu hành kháng thể (Rodriguez-Canul và cs., 1998, tại Mexico; Garcia và cs., 1999, 2003a; 2003b, tại Peru), hoặc giữa giới tính và tình trạng nhiễm trùng hoạt động (Sarti và cs., 1992; Morales và cs., 2008a, cũng tại Mexico). Sự không đồng nhất về mức độ tiếp xúc với mầm bệnh dựa trên độ tuổi và giới tính cũng đã được đề xuất sau khi quan sát các động lực xã hội trong cấu trúc phân cấp đàn lợn (Copado và cs., 2004).
Giống lợn cũng được xem là một yếu tố nguy cơ tại khu vực Châu Phi cận Sahara, cho thấy lợn lai có khả năng dương tính huyết thanh với kháng nguyên thấp hơn 72% so với các giống lợn lùn địa phương ở Zambia (OR = 0,72, 95%CI = 0,63–0,81) (Sikasunge và cs., 2008c) và tại Uganda, nơi lợn lai (OR = 3,221, 95%CI = 1,60–6,49) cùng lợn ngoại nhập (OR = 3,11, 95% CI = 1,73–5,58) có nguy cơ dương tính với kháng nguyên cao hơn so với lợn địa phương (Kungu và cs., 2017a). Những phát hiện này khác với các kết quả tại Madagascar, nơi dữ liệu từ lò giết mổ cho thấy lợn bản địa có nguy cơ nhiễm bệnh cao gấp 8,5 lần (95% CI = 6,7-10,7) so với lợn ngoại nhập đã cải tạo giống (Porphyre và cs., 2015). Tại Trung Mỹ (Mesoamerica), tình trạng dương tính huyết thanh với kháng thể ở lợn cũng có liên quan đến kiểu hình lợn địa phương Mexico (OR = 1,46, 95%CI = 1,01-2,11) so với lợn đã qua cải tạo di truyền (Morales và cs., 2018).
Một đặc điểm quan trọng khác trong dịch tễ học bệnh ATSDL ở lợn là sự phân bố cụm theo không gian được ghi nhận ở nhiều bối cảnh khác nhau. Việc sử dụng hàm K (Ripley) - một phương pháp phân tích không gian dùng để xác định xem hiện tượng nghiên cứu xuất hiện theo cụm hay phân bố ngẫu nhiên (Ripley, 1981) đã phát hiện sự phân bố cụm chung về tỷ lệ mắc bệnh ATSDL ở lợn trong khoảng cách từ 600m đến 5km (tính từ một ca bệnh hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên) dựa trên dữ liệu kháng nguyên và trong khoảng 0,5-6 km và 7,5-10 km đối với dữ liệu tỷ lệ mắc bệnh qua sờ nắn lưỡi tại các khu vực nguy cơ cao ở Tanzania. Phương pháp thống kê quét không gian (Spatial scan statistics) đã tìm thấy một cụm lớn có ý nghĩa về tỷ lệ lưu hành bệnh ATSDL ở lợn bằng phương pháp sờ nắn lưỡi ( , ) trong cùng khu vực nghiên cứu tại Tanzania (Ngowi và cs., 2010). Phân tích không gian bằng hàm K cũng xác định được một cụm dương tính huyết thanh với kháng nguyên ATSDL ở lợn tại CHDC Congo ( , ), mặc dù phân tích không tìm thấy phụ thuộc không gian nào giữa các cụm nhiễm sán dây ở người và bệnh ấu trùng sán dây ở lợn (Madinga và cs., 2017).
Mối tương quan về mặt địa lý giữa tình trạng dương tính huyết thanh với kháng thể bệnh ATSDL ở lợn và người mang sán dây trưởng thành cũng đã được xác định tại Peru, khi tỷ số chênh tìm thấy một con lợn có một nang sán tăng lên có ý nghĩa (OR = 4,6; 95% CI = 1,36–15,4) trong phạm vi 50 m tính từ người mang sán dây trưởng thành (Pray và cs., 2017). Bên cạnh đó, nghiên cứu từ cùng khu vực ở miền Bắc Peru cho thấy lợn dành phần lớn thời gian lang thang và tiếp xúc với các khu vực đi tiêu ngoài trời trong phạm vi 100 m tính từ nhà của chúng (Pray và cs., 2016). Động lực không gian cũng biến động theo vị trí và mùa trong khu vực nghiên cứu, với kích thước phạm vi hoạt động và sự tiếp xúc với các điểm đi tiêu ngoài trời có sự khác biệt đáng kể giữa các làng địa phương, đồng thời phạm vi hoạt động được xác định là lớn hơn có ý nghĩa trong mùa mưa so với mùa khô (61%; 95% CI = 41–73%) (Pray và cs., 2019).
Những quan sát này được ủng hộ bởi nghiên cứu trước đó tại Peru, nơi Lescano và cộng sự (2007) đã chứng minh sự biến thiên mức độ mới mắc dương tính huyết thanh kháng thể bệnh ATSDL ở lợn theo khoảng cách gần người mang sán dây và mối tương quan thuận chung giữa tỷ lệ dương tính huyết thanh bệnh ATSDL ở lợn với kháng nguyên sán dây trong phân người (hệ số tương quan hạng Spearman = 0,866; giá trị p = 0,005). Nghiên cứu trước đó tại Mexico lần đầu tiên xác định sự phân bố cụm của các ca bệnh phát hiện qua sờ nắn lưỡi trong cùng một nhà hoặc các nhà liền kề (Sarti-Gutierrez và cs., 1988), và điều này cũng được ghi nhận khi sử dụng tình trạng dương tính huyết thanh với kháng thể (Widdowson và cs., 2000). Tuy nhiên, Morales và cộng sự (2008a) nhận thấy rằng mặc dù tất cả lợn đều tập trung theo hộ gia đình, không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa sự phân bố cụm của lợn không nhiễm bệnh và lợn nhiễm bệnh (được đo lường bằng phương pháp sờ nắn lưỡi). Các nghiên cứu tại Châu Á đã nhấn mạnh hơn nữa sự phân bố cụm theo không gian trong các đơn vị chăn nuôi hộ gia đình quy mô nhỏ ở Campuchia đối với lợn dương tính huyết thanh với kháng thể (hệ số tương quan nội lớp = 0,20; 95%CI = 0,03-0,34) (Adenuga và cs., 2018). Sự phân bố cụm cũng được chứng minh tại Việt Nam, với các con lợn dương tính huyết thanh với kháng thể tập trung xung quanh bán kính 1.500 m tại một ngôi làng, có thể gợi ý rằng phạm vi lang thang của lợn ở làng này lớn hơn so với các bối cảnh khác (Ng-Nguyen và cs., 2018a).
Sự biến thiên về tỷ lệ dương tính huyết thanh của bệnh ATSDL ở lợn theo địa lý và hệ thống chăn nuôi cũng thể hiện rõ ở cấp vùng (Garcia và cs., 1999) và cấp độ gộp nhóm làng (Jayashi và cs., 2012b) tại Peru; ở cấp làng tại CHDC Công-gô (Praet và cs., 2010c); giữa các hệ thống chăn nuôi lợn tại Uganda (Kungu và cs., 2017b); theo loại hình đơn vị ngành chăn nuôi lợn tại Campuchia (Adenuga và cs., 2018) và dựa trên loại hình cùng mục đích sử dụng đất tại Kenya, trong đó đất nông nghiệp bị ngập nước và đồng cỏ có liên quan đến tỷ lệ dương tính huyết thanh với kháng nguyên cao hơn (Wardrop và cs., 2015).
Sự biến thiên theo mùa của tình trạng nhiễm ATSDL ở lợn cũng được ghi nhận trong các nghiên cứu, liên kết với các phát hiện của Pray và cộng sự (2019) về những điểm khác biệt trong phạm vi lang thang theo mùa. Ví dụ, Braae và cộng sự (2014) đã chỉ ra sự biến thiên theo mùa của tỷ lệ dương tính huyết thanh với kháng nguyên, có thể liên quan đến các phương thức sản xuất trồng trọt địa phương phụ thuộc vào mùa; trong khi Porphyre và cộng sự (2015) báo cáo số lượng xác lợn bị nhiễm bệnh ở mùa khô ít hơn (ví dụ: mùa khô lạnh vào tháng 6 và tháng 8; OR = 0,53, giá trị p = 0,32–0,88) so với mùa mưa tại Madagascar, điều này ủng hộ phát hiện về tỷ lệ dương tính huyết thanh với kháng nguyên ở mùa mưa cao hơn so với mùa khô tại Tanzania (giá trị p = 0,019) (Maganira và cs., 2019).
2.6. Bệnh ấu trùng sán dây lợn ở người: Ký sinh trùng, miễn dịch học và bệnh sinh lâm sàng
Con người có thể đóng vai trò là vật chủ trung gian ngẫu nhiên, qua đó họ tiếp xúc và nuốt phải trứng sán qua đường truyền nhiễm phân - miệng, do đó phát triển bệnh ATSDL ở người. Sự tiếp xúc với trứng sán tại các vùng dịch tễ của T. solium được cho là ở mức cao, với 10 đến 25% tổng số các làng ghi nhận đáp ứng kháng thể chống T. solium (Tsang và Wilson, 1995; Schantz, 2002; Garcia và cs., 2014). Tuy nhiên, con số này nhiều khả năng là một sự ước tính thấp đáng kể so với tổng quần thể bị tiếp xúc (Garcia và cs., 2001; Meza-Lucas và cs., 2003; Mwape và cs., 2013). Sau khi nuốt phải trứng T. solium và được kích hoạt (nở) trong ruột người, các ấu trùng sáu móc xé qua niêm mạc và di chuyển đến các vị trí trong hệ thần kinh trung ương, mắt, cơ vân/cơ tim và các mô dưới da của vật chủ người (Pawlowski, 2002), nơi các ấu trùng sán dây định cư dưới dạng giai đoạn nang (còn sống). Trong trường hợp bệnh ATSDL ở lợn, chỉ có dạng hình thái hình nốt xơ (cellulose) riêng biệt của ấu trùng sán dây phát triển.
Trong bệnh ATSDL ở người, cả hai dạng ATSDL hình nốt xơ và dạng chùm nho (racemose) đều có thể phát triển (Rabiela và cs., 1989; Flisser và cs., 2013). Trong khi ATSDL dạng nốt xơ là các bọc nhỏ như đã mô tả trước đây đối với bệnh ATSDL ở lợn, thì ATSDL dạng chùm nho, vốn được tìm thấy chủ yếu ở một số khu vực thuộc hệ thần kinh trung ương, có thể kích thước đạt 10-20 cm, có khả năng chứa tới 60 ml dịch và xuất hiện dưới dạng một bọc lớn, tròn hoặc chia thùy được giới hạn bởi một lớp vách mỏng (Flisser và cs., 2013). Sự khu trú của ATSDL trong hệ thần kinh trung ương ở người gây ra bệnh ấu trùng sán dây hệ thần kinh (NCC), giai đoạn gần như chịu trách nhiệm hoàn toàn cho gánh nặng bệnh tật ở người. Việc phát hiện bệnh ở người dựa trên các xét nghiệm huyết thanh học tìm kháng nguyên và kháng thể bệnh ấu trùng sán dây, đây cũng là các công cụ tương tự như trong phát hiện bệnh ATSDL ở lợn chống lại các glycoprotein có nguồn gốc từ ấu trùng sán dây. Các xét nghiệm huyết thanh học bệnh ATSDL ban đầu được phát triển cho bệnh ấu trùng sán dây ở người và mặc dù chúng có thể được coi là có độ đặc hiệu cao ở người, sự giảm độ đặc hiệu trong chẩn đoán bệnh ATSDL ở lợn là do phổ các loài họ sán dây (Taeniidae) mà lợn tiếp xúc và nhiễm phải rộng hơn (Lightowlers và cs., 2016a). Sự kết hợp giữa chẩn đoán hình ảnh và huyết thanh học được sử dụng, khi điều kiện cho phép, để chẩn đoán bệnh ATSDL ở hệ thần kinh ở người trong các cơ sở lâm sàng (Garcia và cs., 2012; Lightowlers và cs., 2016a).
Đáp ứng miễn dịch thành công của vật chủ đối với các ATSDL định cư ở hệ thần kinh trung ương dẫn đến một quá trình thoái hóa từ giai đoạn dạng keo (colloidal stage) sang giai đoạn dạng hạt không còn sống (non-viable granular stage) và cuối cùng biến đổi thành một nốt vôi hóa được gọi là giai đoạn vôi hóa (calcified stage) (Del Brutto và cs., 2012). Ấu trùng sán dây cũng có thể duy trì khả năng sống trong nhiều thập kỷ ở người. Khi đạt đến giai đoạn dạng keo, phản ứng viêm đơn nhân dẫn đến tổn thương mô não xung quanh, phù nề, tăng sinh tế bào thần kinh đệm, xơ hóa, hoại tử và các thay đổi thoái hóa thần kinh rộng hơn (White, 2000; Carpio, 2002).
Ở các giai đoạn dạng hạt và vôi hóa cuối cùng, hiện tượng phù tại chỗ giảm bớt nhưng sự hình thành sau đó của các tế bào khổng lồ nhiều nhân (u hạt ở não/brain granulomas) và sự tăng sinh tế bào thần kinh đệm có thể vẫn tiếp diễn (White và cs., 2000). Một số yếu tố quyết định các biểu hiện lâm sàng của NCC có triệu chứng ở người, tùy thuộc vào vị trí và số lượng nang sán. Sự thoái hóa của các ATSDL khu trú ở vùng nhu mô não (NCC trong nhu mô/intraparenchymal NCC) biểu hiện trên lâm sàng dưới dạng các cơn co giật, trong khi vị trí của ấu trùng sán dây ở khoang dưới nhện, các bể não nền và bên trong các bọc (NCC ngoài nhu mô/extra-parenchymal NCC) lại diễn tiến theo một tiến trình lâm sàng khác, với hình thái ấu trùng sán dây dạng chùm nho phổ biến hơn (Garcia và cs., 2014). NCC ngoài nhu mô là một bệnh tiến triển, liên quan đến bệnh tật lâm sàng do chứng não úng thủy từ việc tắc nghẽn sự lưu thông dịch não tủy sau sự phát triển của ATSDL dạng chùm nho (Garcia và cs., 2014; Mahale, Mehta và Rangasetty, 2015). Tỷ lệ tử vong cao (~50%) cũng có liên quan đến viêm màng não do ấu trùng sán dây xuất phát từ NCC ngoài nhu mô dạng chùm nho (Takayanagui và Odashima, 2006; Mahale và cs., 2015).
Như đã thảo luận trước đó, NCC cũng xảy ra ở lợn, với sự chiếm ưu thế của các ATSDL dạng bọc khu trú ở nhu mô trong bệnh NCC ở lợn, so với một bệnh cảnh đa hình thái hơn trong bệnh NCC ở người (Sáenz và cs., 2008). Bản chất đa hình thái của bệnh trong NCC ở người cũng được giả thuyết là kết quả của các yếu tố di truyền ảnh hưởng đến tính cảm nhiễm (susceptibility) và cơ chế sinh bệnh ở cấp độ cá thể, do các biểu hiện lâm sàng đa dạng xảy ra ở những cá thể bị nhiễm cùng độ tuổi, giới tính và từ các quần thể nghiên cứu tương tự (Fleury và cs., 2004; Gripper và Welburn, 2017). Ví dụ, sự đa hình di truyền liên quan đến sự biểu hiện của enzym matrix metallopeptidase (MMP)-9, vốn làm thay đổi tính thấm của hàng rào máu não và sự xâm nhập của các tế bào miễn dịch để kích thích sự thoái hóa ấu trùng sán dây NCC (Gupta và cs., 2012), cùng những biến thể về tính cảm nhiễm do gen toll-like receptor (TLR)-4, là các yếu tố ứng viên tiềm năng tạo nên sự biến thiên di truyền giữa các vật chủ người trong biểu hiện lâm sàng NCC (Verma và cs., 2010).
(còn nữa) (Tiếp theo Phần 4)
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang và CN. Nguyễn Thái Hoàng
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn