- Phát hiện các đột biến gen mới liên quan đến khả năng kháng thuốc điều trị sốt rét
Các nhà nghiên cứu tìm kiếm manh mối di truyền về vấn đề kháng thuốc sốt rét ngày càng nghiêm trọng đã xác định được các đột biến mới liên quan đến việc ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) giảm khả năng nhạy cảm với các phương pháp điều trị hiện tại. Bằng cách giải trình tự toàn bộ bộ gen của KSTSR từ máu của hàng trăm người nhiễm bệnh ở Uganda, một nhóm các nhà nghiên cứu do các nhà khoa học tại Đại học Brown dẫn đầu đã phát hiện ra rằng một nhóm các biến thể di truyền trong một số KSTSR cho thấy khả năng kháng thuốc giảm đáng kể đối với các loại thuốc thường được sử dụng để điều trị sốt rét ở châu Phi và Hoa Kỳ.
Kết quả của nghiên cứu được tài trợ bởi chính phủ liên bang đã được công bố trên tạp chí Nature Medicine. Việc các đột biến mới này lan rộng nhanh chóng là điều rất đáng lo ngại - điều đó cho thấy chúng rất quan trọng đối với sự sống còn của KSTSR. Sốt rét vẫn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, đặc biệt là ở vùng cận Sahara Châu Phi. Khi tình trạng kháng thuốc tiếp tục gia tăng, chúng ta lo ngại điều đó sẽ làm suy yếu khả năng kiểm soát sự lây lan và dẫn đến nhiều ca tử vong hơn nữa cho một lượng lớn người dân ở đó và trên toàn thế giới - Tiến sĩ Jeffrey Bailey, chuyên gia nghiên cứu chuyển dịch và bệnh lý & y học xét nghiệm Đại học Brown cho biết.
Hiện tượng kháng thuốc thường xảy ra khi các phương pháp điều trị bệnh do vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng được cung cấp trên quy mô rất lớn, như trường hợp điều trị sốt rét ở Châu Phi. Vì lý do đó, Bailey giải thích, các hệ thống giám sát đang được xây dựng để theo dõi các đột biến đã biết của mầm bệnh cũng như hiệu quả của thuốc theo thời gian. Phòng thí nghiệm của Bailey tại Đại học Brown đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các hệ thống gen để hỗ trợ các chương trình giám sát bằng cách giải trình tự DNA và theo dõi các đột biến, đồng thời đã nhận được các khoản tài trợ từ chính phủ liên bang và các quỹ cho công việc này ở các quốc gia trên khắp châu Phi. Theo Bailey, các dự án giám sát thường tập trung vào các dấu hiệu sinh học đã được xác định về khả năng kháng thuốc. Để tìm ra manh mối giải thích cho những phản ứng nhạy cảm mới, Karamoko Niaré, trước đây là nghiên cứu sinh sau tiến sĩ trong phòng thí nghiệm của Bailey, đã bắt đầu tập trung vào giải trình tự toàn bộ hệ gen.
Họ biết rằng KSTSR đang thay đổi theo thời gian, khiến khả năng kháng thuốc điều trị sốt rét của chúng giảm đi và họ muốn tìm hiểu chính xác các yếu tố di truyền quyết định sự thay đổi này – GS.TS. Niaré tại Đại học Brown, đồng thời là tác giả chính của bài báo cho biết quyết định giải trình tự toàn bộ bộ gen để hiểu rõ hơn điều gì đang xảy ra.
Trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây, phương pháp điều trị chính cho bệnh sốt rét không biến chứng ở Uganda là artemether-lumefantrine (AL), liệu pháp phối hợp dựa trên artemisinin (ACT) được sử dụng phổ biến nhất trên khắp vùng cận Sahara Châu Phi. Tính đến năm 2026, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) đã khuyến nghị liệu trình điều trị dài hơn vì liều tiêu chuẩn không chữa khỏi được một số du khách trở về nước, cho thấy KSTSR đang trở nên ít nhạy cảm hơn với điều trị. Các nhà nghiên cứu đã xác định một vùng trong bộ gen của KSTSR bao gồm 69 gen. Thông qua các phân tích di truyền bổ sung, họ phát hiện ra rằng một tập hợp biến thể liên kết bao gồm 03 đột biến cụ thể và 02 đột biến mất đoạn có liên quan đến việc giảm độ nhạy cảm với các thuốc artemisinin và lumefantrine (cả hai đều là thành phần của AL) cũng như thuốc sốt rét mefloquine. Các đột biến có khả năng thúc đẩy quá trình chọn lọc này được tìm thấy trong một gen mã hóa protein gọi là PX1, hay protein liên kết phosphoinositide, thường được tìm thấy gần một sản phẩm gen khác được biết là gây ra tình trạng kháng thuốc artemisinin ở mức độ vừa phải.
Đây là lần đầu tiên các nhà nghiên cứu tìm ra mối liên hệ giữa đột biến gen với việc giảm khả năng nhạy cảm với nhiều loại thuốc được sử dụng trong liệu pháp phối hợp điều trị sốt rét. Không có bất kỳ dấu ấn phân tử (molecular markers) nào được xác nhận về khả năng kháng lumefantrine - họ biết rằng có một gen liên quan đến khả năng kháng một phần artemisinin nhưng không thể giải thích được những thay đổi quan sát được đối với lumefantrine - GS.TS. Niaré nói. Nghiên cứu này xác định được một dấu ấn phân tử có thể được sử dụng trong các nghiên cứu giám sát để theo dõi sự xuất hiện và lan rộng của tình trạng giảm nhạy cảm với các liệu pháp điều trị sốt rét hàng đầu trên khắp Châu Phi. Đó là một công cụ rất quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng.
GS.TS. Niaré cho biết đột biến mới được phát hiện này cần được tích hợp vào hệ thống theo dõi đột biến và nghiên cứu sâu hơn. Vì hiệu ứng này đã được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên các KSTSR được thu thập từ bệnh nhân sốt rét, Bailey cho biết nghiên cứu trong tương lai nên điều tra xem các KSTSR đột biến này ảnh hưởng như thế nào đến kết quả điều trị sốt rét bằng ACT. Mặc dù các tác giả nhận thấy rằng đột biến này đang lan rộng nhanh chóng ở Uganda, nhưng mức độ lan rộng ra ngoài biên giới Uganda vẫn chưa được biết và cần được nghiên cứu thêm. Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì một chương trình điều trị sốt rét hiệu quả - Bailey cho biết.
Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển các mô hình dự đoán thời điểm thuốc sẽ hoàn toàn ngừng tác dụng và cũng cho thấy sự cấp bách trong việc phát triển các loại thuốc mới để điều trị bệnh sốt rét. Melissa Conrad, phó giáo sư tại Đại học Johns Hopkins đã giám sát công việc này cùng với Bailey. Dự án là sự hợp tác chặt chẽ với các nhà nghiên cứu khác tại Trung tâm Nghiên cứu Bệnh truyền nhiễm ở Uganda, Đại học California, San Francisco, Đại học Bắc Carolina tại Chapel Hill và Đại học Notre Dame.
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Viện Y tế Quốc gia/Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia (R01AI173557, K24AI134990, R01AI075045, U19AI089674, R01AI117001 và R01AI139179); Quỹ Sáng kiến Thuốc phòng chống Sốt rét (RD/15/0001) và Quỹ Gates (INV-035751).
- Mưa lớn và lũ lụt làm tăng nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm trên khắp châu Âu
Từ nguồn nước uống bị ô nhiễm đến việc tiếp xúc với mầm bệnh do lũ lụt, các bằng chứng từ châu Âu cho thấy lượng mưa cực đoan có thể tạo ra nguy cơ lây lan dịch bệnh truyền nhiễm theo chuỗi, đồng thời bộc lộ những lỗ hổng lớn trong công tác giám sát và chuẩn bị.
Một nghiên cứu gần đây trên tạp chí Eurosurveillance đã tiến hành đánh giá nhanh các bằng chứng về mối liên hệ giữa mưa lớn và lũ lụt với sự xuất hiện của các bệnh truyền nhiễm ở Châu Âu, sử dụng các bài báo được xuất bản từ năm 2018 đến năm 2025 và báo cáo về các biện pháp chuẩn bị và ứng phó. Rủi ro bệnh truyền nhiễm và lũ lụt ở châu Âu đã chi ra thông qua phân tích thấy Châu Âu đang đối mặt với nhiều thách thức ngày càng gia tăng đối với sức khỏe cộng đồng khi biến đổi khí hậu dẫn đến các hiện tượng thời tiết cực đoan thường xuyên và nghiêm trọng hơn, đặc biệt là mưa lớn và lũ lụt. Các bằng chứng trước đây ở Châu Âu đã liên kết lũ lụt với các bệnh lây truyền qua thực phẩm và nước, bao gồm Norovirus và Escherichia coli, trong khi đánh giá hiện tại đã xác định bệnh nhiễm khuẩn Campylobacter, đặc biệt là Campylobacter jejuni, bệnh nhiễm khuẩn Leptospira spp. và Escherichia coli sản sinh độc tố Shiga (STEC) trong số các hậu quả được báo cáo.
Nói rộng hơn, nước tù đọng có thể tạo ra nơi sinh sản cho muỗi truyền các bệnh như sốt xuất huyết và sốt West Nile. Nguồn nước bị ô nhiễm, diện tích sinh sản của muỗi mở rộng và cơ sở hạ tầng bị hư hại đều góp phần làm tăng nguy cơ này.
Mặc dù nhận thức về những mối đe dọa này ngày càng tăng, nhưng tương đối ít nghiên cứu của châu Âu được công bố từ năm 2018 đến nay đã xem xét các mối liên hệ này. Bằng chứng hiện có còn hạn chế về phạm vi và phân bố không đồng đều trên khắp châu Âu, dẫn đến sự không chắc chắn về quy mô và mức độ phức tạp của các rủi ro. Do đó, vẫn còn nhiều câu hỏi quan trọng về toàn bộ các rủi ro bệnh truyền nhiễm do điều kiện khí hậu hiện nay gây ra và cách tốt nhất để chuẩn bị ứng phó.
Bản đồ thể hiện sự phân bố địa lý của các bệnh hoặc tác nhân gây bệnh được báo cáo có liên quan đến mưa lớn hoặc lũ lụt, tại các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu/Khu vực Kinh tế Châu Âu, Anh và các quốc gia đang mở rộng Liên minh Châu Âu, từ 2018-2025.
Để giải quyết những điều chưa chắc chắn này, việc nghiên cứu mối liên hệ đang phát triển giữa thời tiết cực đoan và sức khỏe cộng đồng là điều cần thiết. Điều này gồm việc xem xét nhiều loại mầm bệnh và hội chứng hơn ở các khu vực vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ, đặc biệt là Nam Âu, Trung Âu và Đông Âu. Hiểu rõ hơn về những mối quan hệ này là rất quan trọng để phát triển các chiến lược y tế công cộng hiệu quả hơn và đảm bảo khả năng phục hồi của châu Âu trước biến đổi khí hậu.
Nghiên cứu mối liên hệ giữa lượng mưa lớn, lũ lụt và các bệnh truyền nhiễm trên khắp châu Âu chỉ ra khi họ đánh giá lượng mưa lớn và lũ lụt - hai trong số những hiện tượng thời tiết cực đoan phổ biến nhất ở Châu Âu, cả hai đều có liên quan đến các bệnh truyền nhiễm. Để tối đa hóa phạm vi nghiên cứu, không có định nghĩa nghiêm ngặt nào được áp dụng cho các hiện tượng này. Thay vào đó, một bộ tiêu chí rộng rãi phù hợp với các tài liệu đã được công bố trước đó đã được chấp nhận. Các nghiên cứu được công bố từ 2028-2025 được đưa vào nếu chúng xem xét mối liên hệ hoặc tác động của mưa lớn hoặc lũ lụt đối với các bệnh truyền nhiễm ở người tại Châu Âu. Nghiên cứu về bất kỳ bệnh truyền nhiễm nào, dù do tác nhân gây bệnh cụ thể hay chưa rõ nguyên nhân, được xác định bằng các triệu chứng như nhiễm trùng đường tiêu hóa, đều đủ điều kiện.
Các cuộc điều tra dịch bệnh và các nghiên cứu giám sát dài hạn cũng được xem xét. Việc trích xuất dữ liệu được thực hiện theo một biểu mẫu đã được thử nghiệm và chất lượng nghiên cứu được đánh giá bằng cách sử dụng danh sách kiểm tra đánh giá phê bình đã được sửa đổi dành cho các nghiên cứu phân tích cắt ngang. Đánh giá này gồm tất cả các nước trong Liên minh Châu Âu ( EU ), Khu vực Kinh tế Châu Âu ( EEA ), Vương quốc Anh và các quốc gia đang mở rộng EU và đã xác định các bài báo liên quan thông qua PubMed, Embase và Thư viện Cochrane.
Trong số 897 hồ sơ được xác định, có 14 bài báo được đưa vào, đề cập đến các đợt bùng phát dịch bệnh, xu hướng dài hạn và mô hình hóa các bệnh truyền nhiễm liên quan đến mưa lớn và lũ lụt. Các bài báo này đề cập đến bệnh nhiễm vi khuẩn Campylobacter, bệnh nhiễm khuẩn Leptospira, vi khuẩn Escherichia coli sản sinh độc tố Shiga (STEC)/ Escherichia coli sinh độc tố Verocytotoxin (VTEC), bệnh nhiễm khuẩn Vibrio, virus Hanta, bệnh nhiễm khuẩn Legionella, bệnh nhiễm khuẩn Cryptosporidium, sốt rét và các bệnh đường tiêu hóa khác, làm nổi bật sự đa dạng về kết quả bệnh truyền nhiễm được báo cáo trên khắp châu Âu.
Một số vụ dịch bệnh có liên quan đến việc thực phẩm hoặc nước bị ô nhiễm sau những trận mưa lớn, ví dụ như vụ nhiễm STEC ở Vương quốc Anh, trong đó rau diếp được cho là nguồn lây nhiễm và các nhà điều tra đưa ra giả thuyết rằng mưa có thể đã cuốn trôi mầm bệnh từ các trang trại chăn nuôi cừu gần đó vào các cánh đồng trồng trọt và vụ nhiễm Campylobacter ở Na Uy, nơi mưa lớn bị nghi ngờ là nguyên nhân gây ra các vết nứt và ô nhiễm trong một hồ chứa nước uống trên núi. Những trường hợp này cho thấy thời tiết khắc nghiệt có thể ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm và nước, làm tăng nguy cơ lây lan bệnh tật.
Các trường hợp mắc bệnh Leptospira spp. đã được báo cáo sau những trận mưa lớn và lũ lụt, bao gồm cả những người tiếp xúc trong quá trình dọn dẹp hoặc làm việc nông nghiệp, cho thấy nguy cơ nhiễm bệnh tăng cao do tiếp xúc với nước bị ô nhiễm. Lũ lụt cũng có liên quan về mặt thời gian với các trường hợp mắc bệnh do phẩy khuẩn và với sự bùng phát bệnh Legionellosis, đặc biệt là ở các nhóm dễ bị tổn thương. Tại Ý, năm trường hợp mắc bệnh vibriosis đã xảy ra trong vòng 1 đến 3 tháng sau trận lũ lụt nghiêm trọng khiến bùn và nước sông tràn ra biển; bệnh Legionellosis có liên quan đến mưa lớn trong một mùa hè ấm áp và ẩm ướt bất thường, với một đài phun nước công cộng được xác định là nguồn gây bệnh có khả năng nhất, cho thấy sự kết hợp của các điều kiện môi trường có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của mầm bệnh và nguy cơ phơi nhiễm.
Lũ lụt đô thị ở Hà Lan có liên quan đến việc người dân tiếp xúc với nước lũ tự báo cáo nhiều triệu chứng về đường tiêu hóa và hô hấp hơn, ngay cả khi không xác định được tác nhân gây bệnh. Các nghiên cứu dài hạn cho thấy mưa lớn và lũ lụt có liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm cao hơn và làm thay đổi mô hình theo mùa ở một số khu vực. Tại Đan Mạch, một số đợt bùng phát dịch lớn được truy vết là do ô nhiễm nước thải sau mưa lớn, cho thấy tác động đến chất lượng nước cộng đồng.
Tại 05 quốc gia vùng Balkan, tỷ lệ mắc bệnh sốt xuất huyết do Hantavirus tăng lên sau cơn bão năm 2014 gây mưa lớn và lũ lụt nghiêm trọng, trong khi ở Ireland, các ca nhiễm VTEC và Cryptosporidium gia tăng ở các khu vực dễ bị lũ lụt ngoài các đợt cao điểm theo mùa thông thường. Tại Bỉ, chỉ có virus hợp bào hô hấp (RSV) cho thấy sự gia tăng rõ rệt sau mưa. Trong lịch sử, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét do Plasmodium vivax trên đảo Falster của Đan Mạch đã tăng gấp ba lần vào mùa xuân năm 1873 sau một trận bão lớn vào tháng 11 năm 1872, một mô hình cho thấy lũ lụt có thể đã làm tăng cường sự lây truyền.
Một nghiên cứu mô hình dự báo rằng lượng mưa lớn vào mùa hè có thể làm tăng mạnh các ca nhiễm Campylobacter ở các nước Bắc Âu, trong khi lượng mưa lớn lại liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn vào mùa đông. Các dự báo khí hậu dài hạn hơn cho thấy tỷ lệ mắc bệnh đang gia tăng nhưng vẫn còn nhiều bất trắc. Ba nghiên cứu mô tả các sự kiện dây chuyền, chẳng hạn như lũ lụt và tràn nước thải, dẫn đến bùng phát dịch bệnh và nhấn mạnh những điểm yếu trong cơ sở hạ tầng và hệ thống y tế công cộng.
Khi mưa lớn và lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn, việc phát triển các chiến lược y tế công cộng bền vững để bảo vệ cộng đồng khỏi các rủi ro về sức khỏe là điều thiết yếu. Các thông điệp y tế công cộng rõ ràng, đặc biệt là đối với các nhóm dễ bị tổn thương như người cao tuổi, người có bệnh lý hoặc khuyết tật, và những người có nguy cơ cao tiếp xúc với nước lũ, là rất quan trọng. Nhưng truyền thông thôi chưa đủ mà cần có những cải tiến thiết thực, chẳng hạn như hệ thống vệ sinh tốt hơn và hệ thống thoát nước hiệu quả, cùng với các phương pháp giám sát dịch bệnh và theo dõi dịch bệnh phối hợp, để phòng ngừa bệnh tật và giữ an toàn cho cộng đồng.
Mặc dù đã có những báo cáo về mối liên hệ giữa các hiện tượng thời tiết cực đoan và sự bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm, nhưng vẫn còn những khoảng trống đáng kể trong nghiên cứu. Các tác giả cảnh báo rằng một số nghiên cứu liên quan có thể đã bị bỏ sót, định nghĩa khác nhau giữa các nghiên cứu, thiên lệch trong việc công bố kết quả có thể đánh giá quá cao tác động, và bằng chứng nghiêng về khu vực Tây Bắc Châu Âu. Việc củng cố cơ sở bằng chứng sẽ rất cần thiết để phát triển các chiến lược y tế công cộng thích ứng và hiệu quả. Nghiên cứu đang diễn ra và các biện pháp chuẩn bị có mục tiêu sẽ giúp cộng đồng ứng phó tốt hơn với những thách thức trong tương lai do mưa lớn và lũ lụt gây ra.
(Hết Phần 1) Tiếp theo Phần 2
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang & Ths.Bs. Nguyễn Công Trung Dũng
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn