Phòng thí nghiệm Batista xác định mục tiêu protein quan trọng để kéo dài hiệu lực của vaccine sốt rét.
Bệnh sốt rét cướp đi sinh mạng của khoảng nửa triệu người mỗi năm và phần lớn trong số đó là trẻ nhỏ ở Châu Phi. Tổ chức Y tế Thế giới hiện khuyến cáo sử dụng hai loại vaccine RTS,S và R21. Cả hai phương pháp điều trị đều có lợi, nhưng hiệu quả và thời gian tác dụng của không phương pháp nào đạt được như các chuyên gia y tế công cộng mong muốn. Phòng thí nghiệm Batista tại Viện Ragon thuộc Đại học Y khoa Brigham, MIT và Harvard đã công bố một nghiên cứu trên Tạp chí Y học Thực nghiệm với tiêu đề "Khắc phục khoảng trống sinh miễn dịch trong vắc xin tiểu đơn vị sốt rét bằng cách mở rộng vùng CSP được nhắm mục tiêu", giải thích một phần lý do và quá trình thử nghiệm để tìm ra giải pháp.
Ký sinh trùng sốt rét được bao bọc bởi một loại protein gọi là PfCSP. Kháng thể liên kết với protein này có thể ngăn chặn sự lây nhiễm trước khi nó phát triển. Nhưng PfCSP không phải là một bề mặt đồng nhất duy nhất. Nó có nhiều vùng độc đáo, và kháng thể chống lại một số vùng này hiệu quả hơn nhiều so với những kháng thể khác.
Cả hai loại vaccine hiện có đều cho hệ miễn dịch thấy cùng một vùng: một đoạn dài các axit amin lặp đi lặp lại, được gọi là đoạn lặp chính. Vùng này kích thích phản ứng tức thì từ hệ miễn dịch, nhắm vào ký sinh trùng.
Hai vị trí bổ sung, được gọi là vùng lặp lại nhỏ và vùng nối, khó tiếp cận hơn nhưng lại là mục tiêu của các kháng thể chống sốt rét mạnh nhất được phát hiện cho đến nay. Cả hai khu vực này đều không được bao gồm trong bất kỳ loại vaccine nào hiện có, nhưng vì chúng có chung các đặc tính liên kết quan trọng với vùng lặp lại chính, nhóm nghiên cứu muốn xem liệu các vaccine hiện tại có thể tạo ra kháng thể chống vùng lặp lại nhỏ và kháng thể chống vùng nối hay không. Để tìm hiểu điều này, các tác giả chính Ja-Hyun Koo (Phòng thí nghiệm Batista, Viện Ragon), Prabhanshu Tripathi (Trung tâm Nghiên cứu Vaccine, NIAID) và các đồng nghiệp đã tạo ra các mô hình chuột chứa gen kháng thể người.
Các tế bào miễn dịch trong những con chuột này bắt đầu với bản thiết kế di truyền giống hệt với bản thiết kế tạo ra các kháng thể bảo vệ của con người, và mỗi dòng chuột đại diện cho một mục tiêu duy nhất trên PfCSP.

Kết quả nghiên cứu cho thấy các loại vaccine hiện tại khó có thể tạo ra kháng thể chống lại các đoạn lặp nhỏ và kháng thể chống lại vùng nối. Khi chuột được tiêm cùng loại PfCSP mà R21 sử dụng, chỉ có các tế bào lặp chính phản ứng. Các tế bào lẽ ra sẽ tạo ra kháng thể mạnh hơn ở các vị trí khác hầu như không có phản ứng gì. Ngay cả khi cho chuột ăn toàn bộ protein PfCSP, bao gồm tất cả vùng, cũng không giúp ích được nhiều. Đoạn lặp chính lấn át tất cả những thứ khác. Do đó, các nhà nghiên cứu đã sử dụng một phương pháp khác. Thay vì toàn bộ protein, họ sử dụng một peptide ngắn, một đoạn chỉ đủ dài để thể hiện sự lặp lại nhỏ và không hơn thế nữa. Không có sự cạnh tranh, các tế bào miễn dịch thích hợp đã phản ứng. Chúng nhân lên, tồn tại trong nhiều tuần và thể hiện các đặc điểm tương tự như các kháng thể bảo vệ trưởng thành.
Thử nghiệm cuối cùng bao gồm việc kết hợp protein kiểu R21 với hai peptide ngắn, một cho đoạn lặp lại nhỏ và một cho đoạn nối. Điều này kích hoạt đồng thời cả ba loại tế bào, dẫn đến sự hình thành kháng thể chống lại cả ba vùng. Khi chuột sau đó được tiếp xúc với ký sinh trùng, sự kết hợp này là sự kết hợp duy nhất được chứng minh là làm giảm đáng kể số lượng KSTSR xâm nhập vào gan. Hợp tác với các đối tác tại Viện Y tế Quốc gia, Đại học Johns Hopkins và Đại học Columbia, nhóm nghiên cứu cũng đã điều tra xem điều gì làm cho kháng thể chống lại các trình tự lặp lại nhỏ trở nên hiệu quả. Họ đã phát triển các phiên bản liên kết với KSTSR chặt hơn tới 10 lần, nhưng sự liên kết chặt hơn không dẫn đến khả năng bảo vệ được cải thiện. Cách thức liên kết của kháng thể dường như quan trọng hơn độ mạnh của sự liên kết.
Thay vì thay thế các loại vaccin hiện có, phương pháp này có thể bổ sung cho chúng, cung cấp cho hệ miễn dịch lý do để nhận biết các phần của ký sinh trùng mà nếu không có nó sẽ bỏ qua. Cần phải tiến hành thử nghiệm trên người trước khi bất kỳ phương pháp điều trị nào có thể được áp dụng; tuy nhiên, nghiên cứu này cho thấy một hướng đi khả thi để tăng cường hiệu quả của vaccine phòng sốt rét và có thể cứu sống nhiều người.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Steel, R. W. J., et al. (2026). Chemovaccination with a late-liver-stage antimalarial induces durable immunity against malaria. Science. https://www.science.org/
2. Rise, N. et al. (2026). Association between heavy rainfall and flooding events and infectious diseases in Europe: a rapid review, 2018 to 2025. Eurosurveillance. 31(31):2500902. https://www.eurosurveillance.org/
3. Niaré, K., và cộng sự (2026). Sự xuất hiện và lan rộng của các biến thể PX1 của Plasmodium falciparum liên quan đến giảm khả năng nhạy cảm với thuốc chống sốt rét ở Uganda. Nature Medicine. https://www.nature.com/articles/s41591-026-04590-5.
4. Giuliano, C. J., et al. (2026) Convergent evolution of metabolic regulation governs redox adaptation in Toxoplasma. Cell. https://www.cell.com/cell/fulltext/S0092-8674(26)00827-5.
5. Niaré, K., et al. (2026) Emergence and spread of Plasmodium falciparum PX1 polymorphisms associated with decreased susceptibility to antimalarials in Uganda. Nature Medicine. https://www.nature.com/articles/s41591-026-04590-5. (Hết)
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang & Ths.Bs. Nguyễn Công Trung Dũng
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn