2.2. Bệnh sán dây ở người: Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ
Các khảo sát về tỷ lệ mắc bệnh cho thấy tỷ lệ mắc bệnh sán dây ở người do loài T. solium thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ nhiễm các giai đoạn ký sinh trùng khác (như bệnh ấu trùng sán dây ở lợn và ở người). Được đo lường bằng phương pháp phát hiện kháng nguyên trong phân qua kỹ thuật copro-Ag-ELISA, tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 1,5% đến 23,4% tùy theo từng bối cảnh nghiên cứu (Rodriguez-Canul và cộng sự, 1999; Garcia và cộng sự, 2003b; Raghava và cộng sự, 2010; Mwape và cộng sự, 2012, 2015; O’Neal và cộng sự, 2012; Mohan và cộng sự, 2014; Madinga và cộng sự, 2017). Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu (6/9) chỉ ra tỷ lệ mắc bệnh rơi vào khoảng 3% hoặc thấp hơn (Rodriguez-Canul và cộng sự, 1999; Garcia và cộng sự, 2003b; Raghava và cộng sự, 2010; Mwape và cộng sự, 2012; O’Neal và cộng sự, 2012; Mohan và cộng sự, 2014).
Tỷ lệ dương tính huyết thanh dựa trên kháng thể chống lại sán dây T. solium dao động từ 2,3% đến 2,9% (Holt và cộng sự, 2016). Các khảo sát dựa trên xét nghiệm phân ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh là 9,7% (Vora và cộng sự, 2008) và một khảo sát dựa trên kết quả dương tính với trứng/tự báo cáo ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh là 8,4% (Conlan và cộng sự, 2012).
Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ gây bệnh sán dây do T. solium ở người gặp nhiều thách thức do tỷ lệ nhiễm bệnh thấp ở hầu hết các bối cảnh. Tỷ lệ dương tính thấp, do đó đòi hỏi cỡ mẫu đủ lớn để xác định mối liên quan với các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn (Rodriguez-Canul và cộng sự, 1999; Mohan và cộng sự, 2014). Các yếu tố nguy cơ được xác định (Bảng 1) có liên quan ý nghĩa thống kê với bệnh sán dây T. solium ở người thông qua kết quả dương tính với kháng nguyên (copro-Ag-ELISA) bao gồm: i) Hộ gia đình đông đúc (trên 6 người), được xác định qua phân tích cây phân loại và hồi quy (classification and regression tree - CART) về các biến nguy cơ tại Zambia (Mwape và cộng sự, 2015); ii) Các cá nhân thường xuyên ăn lưỡi lợn tại Việt Nam (Tỷ số chênh (OR) = 4,62; 95% CI = 1,49-14,3) (Ng-Nguyen và cộng sự, 2018c), và iii) Thói quen ăn thịt lợn chưa nấu chín tại Ấn Độ (OR = 2,65, 95% CI = 1,19–5,94), với tỷ lệ dương tính được đo lường bằng xét nghiệm phân và phản ứng chuỗi trùng hợp đa mồi (multiplex PCR) (Prasad và cộng sự, 2007).
Kết quả dương tính với copro-Ag-ELISA cũng liên quan có ý nghĩa thống kê với: iv) Các cá nhân thuộc hộ gia đình có nuôi lợn bị nhiễm bệnh (được xác định qua khám lưỡi và xét nghiệm huyết thanh) tại Mexico (chi-squared = 17,81, p-value = 0,005) (Rodriguez-Canul và cộng sự, 1999); v) Tiền sử thải đốt sán dây trong phân (OR = 3,31; 95% CI = 2,31-4,76) tại Ấn Độ (Prasad và cộng sự, 2007) và vi) Có thành viên trong gia đình mắc bệnh ấu trùng sán dây ở hệ thần kinh (NCC) (OR = 17,12; 95% CI = 1,51–194,21) cũng tại Ấn Độ (Mohan và cộng sự, 2014).
Các mối liên quan và xu hướng theo tuổi ở bệnh sán dây ở người đã được xác định qua nhiều khu vực địa lý khác nhau (Garcia và cộng sự, 2003b; Prasad và cộng sự, 2007; Vora và cộng sự, 2008; Madinga và cộng sự, 2017). Đỉnh điểm nhiễm bệnh theo tuổi ở nhóm người trẻ tuổi đã được ghi nhận, trong đó tỷ lệ mắc bệnh đo bằng kỹ thuật copro-Ag-ELISA có liên quan có ý nghĩa thống kê với tuổi (p< 0,05) tại CHDC Congo (DRC) (Madinga và cộng sự, 2017). Bằng chứng cho mối liên quan này bao gồm các quan sát: a) Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất và đỉnh điểm theo tuổi nằm ở nhóm dưới 10 tuổi tại CHDC Congo (Madinga và cộng sự, 2017); b) Độ tuổi < 55 được xác định là yếu tố quyết định quan trọng trong phân tích cây phân loại và hồi quy (CART) tại một trong hai huyện được nghiên cứu ở Zambia (Mwape và cộng sự, 2015), và c) Đỉnh điểm dương tính với copro-Ag-ELISA có ý nghĩa thống kê ở nhóm dưới 10 tuổi so với các nhóm tuổi khác (p = 0,042) tại Peru (Garcia và cộng sự, 2003b).
Tại Guatemala, tỷ lệ mắc bệnh ban đầu tăng theo tuổi, sau đó giảm mạnh sau 30 tuổi (Allan và cộng sự, 1996). Ngược lại, một số ít nghiên cứu ghi nhận đỉnh điểm nhiễm bệnh theo tuổi ở các nhóm tuổi lớn hơn, với tỷ lệ mắc bệnh qua xét nghiệm phân đạt đỉnh ở nhóm 45-55 tuổi tại Ấn Độ (Vora và cộng sự, 2008) và tỷ số chênh dương tính qua xét nghiệm phân/multiplex PCR cao hơn ở nhóm trên 15 tuổi (OR = 1,47; 95% CI = 1,01-2,13) cũng tại Ấn Độ (Prasad và cộng sự, 2007).
Giới tính cũng liên quan đến nguy cơ nhiễm bệnh tại Châu Á, trong đó giới nam có liên quan có ý nghĩa thống kê và có mối liên hệ thuận (OR = 2,20; 95% CI = 1,34–3,63) tại Lào (Conlan và cộng sự, 2012). Tuy nhiên, kết quả này dựa trên việc phát hiện trứng trong phân và tự báo cáo, điều này có thể dẫn đến sai số đo lường đáng kể. Giới nam cũng có tỷ số chênh mắc Taenia spp. cao hơn có ý nghĩa thống kê dựa trên soi kính hiển vi/multiplex PCR (OR = 2,77; 95% CI = 1,00-7,68) tại Việt Nam (Ng-Nguyen và cộng sự, 2018c).
Một số nghiên cứu, đặc biệt là các nghiên cứu được thực hiện tại Châu Á, nơi các loài Taenia khác lưu hành phổ biến, đã sử dụng các phương pháp chẩn đoán không thể phân biệt giữa các loài Taenia (ví dụ: soi kính hiển vi, tự báo cáo), hoặc chỉ báo cáo mối liên quan với tất cả các loài Taenia gộp chung được xác định, thay vì từng loài riêng biệt, ngay cả khi áp dụng các phương pháp phát hiện sinh học phân tử (Prasad và cộng sự, 2007; Ng-Nguyen và cộng sự, 2018c; Li và cộng sự, 2019).
Một đặc điểm khác của dịch tễ học nhiễm sán dây ở người là sự tập trung theo không gian của tình trạng nhiễm bệnh. Một cụm lớn các trường hợp dương tính với copro-Ag-ELISA đã được xác định tại Zambia bằng phương pháp phân cụm không gian phân cấp hàng xóm gần nhất có hiệu chỉnh nguy cơ (Mwape và cộng sự, 2012). Tại CHDC Congo, hai cụm có ý nghĩa thống kê (tổng cỡ mẫu lần lượt là n = 276 và n = 9; p< 0,001) đã được xác định bởi Madinga và cộng sự (2017) sử dụng hàm K (Ripley) (Ripley, 1981) và hàm này được sử dụng để định lượng sự tập trung không gian có ý nghĩa của các chỉ số nhiễm bệnh vượt quá mức dự kiến do sự không đồng nhất của môi trường tự nhiên). Tại Peru, người dân có khả năng dương tính với kháng nguyên trong phân cao hơn nếu sống trong bán kính 100 m tính từ con lợn dương tính qua khám lưỡi (p-value = 0,02) (O’Neal và cộng sự, 2012). Các điểm nóng có ý nghĩa, dựa trên xét nghiệm phân/copro-Ag-ELISA, đã được xác định tại Ấn Độ (sử dụng phần mềm thống kê quét không gian SaTScan™), với nguy cơ tương đối (RR) là 36,67 (p = 0,02) (Raghava và cộng sự, 2010). (SaTScan™ (SaTScan, 2018) là một phần mềm miễn phí phân tích dữ liệu không gian, thời gian và không-thời gian bằng cách sử dụng các thống kê quét không gian, thời gian hoặc không-thời gian).
| Khu vực | Ăn thịt lợn nhiễm bệnh/chưa nấu chín | Thuộc hộ gia đình có lợn nhiễm bệnh | Quy mô hộ gia đình (số nhân khẩu>6) | Giới tính | Tuổi | Tính không đồng nhất về mặt địa lý | Sự tập trung không gian | Dân tộc | Tiền sử đã từng hoặc đang nhiễm |
| Châu Phi | | | Mwape và cs., 2015** | | Mwape và cs., 2015** Madinga và cs., 2017** | | Mwape và cs., 2012** Madinga và cs., 2017** | | |
| Trung/Nam Mỹ | Rodriguez-Canul và cs., 1999** | Rodriguez-Canul và cs., 1999** | | | Garcia và cs., 2003b** | | O’Neal và cs., 2012** | | |
| Châu Á | Ng-Nguyen và cs., 2018c^** Prasad và cs., 2007** | | | Conlan và cs., 2012^** Ng-Nguyen và cs., 2018c^** | Prasad và cs., 2007** Vora và cs., 2008** | Li và cs., 2019 | Raghava và cs., 2010** | Conlan và cs., 2012 | Prasad và cs., 2007** Mohan và cs., 2014** Li và cs., 2019 |
** Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê được xác định qua phân tích thống kê chính thức dùng để kiểm định mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ hoặc trong phân tích thống kê không gian; ^ Taenia spp, không chỉ T. solium.
Bảng 1. Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh do sán dây Taenia solium ở người
2.3. Trứng trong môi trường: Đặc điểm sinh học
Trứng T. solium (loài mà từ đó các ấu trùng sáu móc sẽ nở ra, Singh và cộng sự, 2020), có hình dạng hình cầu hoặc hình tỏa tròn từ tâm và được tìm thấy riêng lẻ hoặc bên trong các đốt sán già. Mặc dù trứng có thể được phát hiện thông qua phương pháp xét nghiệm phân truyền thống, nhưng không thể phân biệt trứng T. solium về mặt hình thái với trứng của T. saginata và các loài Taenia khác (Jeri và cộng sự, 2004). Ấu trùng sán có móc được bao bọc bởi một vỏ phôi bảo vệ, có đường kính khoảng 26-43 μm (Yoshino và cs., 1933c; Flisser và cs., 2013) nhằm chống lại các yếu tố bên ngoài môi trường. Giai đoạn này được gọi là phôi 6 móc, do có sáu móc phôi nằm trên ấu trùng sán. Trứng được thải ra từ ruột người sẽ ở nhiều giai đoạn phát triển khác nhau: i) Một số vẫn đang phát triển (mặc dù khả năng tiếp tục trưởng thành của trứng chưa phát triển ở môi trường bên ngoài vẫn đang còn được tranh luận (Alvarez Rojas và cộng sự, 2018)); ii) Những trứng sẵn sàng gây nhiễm cho ký chủ trung gian; và iii) Trứng không có khả năng gây nhiễm hoặc trứng già, được giả thuyết là đóng vai trò như các yếu tố gây miễn dịch nếu ký chủ trung gian ăn phải (Pawlowski, 2002).
Hầu hết các nghiên cứu nhằm đánh giá các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sự sống sót và sức sống của trứng sán dây đều được tiến hành trên các loài khác. Các yếu tố ngoại cảnh thiết yếu, chủ yếu được nghiên cứu trên T. saginata (Murrell và cs., 2005), bao gồm việc các ấu trùng sáu móc nằm trong các đốt sán hay ở dạng cô lập (được kiểm chứng trong điều kiện phòng thí nghiệm) (Suvorov và cs., 1965); độ ẩm (Silverman và Maneely, 1955); nhiệt độ, và các yếu tố theo mùa (Rukhova và cs., 1963; Bucur và cộng sự, 2019). Các nghiên cứu về tuổi thọ của trứng T. saginata cho thấy một tỷ lệ nhỏ trong số chúng vẫn duy trì khả năng gây nhiễm trong khoảng 06 tháng trong điều kiện đất tự nhiên tại Đan Mạch (Ilsoe và cộng sự, 1990). Trong các điều kiện khí hậu khác nhau, chúng có thể tồn tại trong khoảng: i) 10 tháng ở vùng khí hậu ôn đới ẩm ướt (Shekhovstov, 1975); ii) Lên đến 5 tháng vào mùa đông và mùa xuân; iii) Lên đến 9 tháng ở vùng khí hậu ấm áp vào mùa hè/ mùa thu (Rukhova, 1963), và iv) Lên đến 130 ngày trong nước (Shekhovstov, 1975).
Các cơ chế phát tán trứng sán T. solium cũng đã được nghiên cứu, trong đó bọ hung được xác định là một vectơ phát tán quan trọng tại Peru (Arriola và cộng sự, 2014; Gomez-Puerta và cộng sự, 2014; Gomez-Puerta và cộng sự, 2018; Vargas-Calla và cộng sự, 2018). Các nghiên cứu đã ghi nhận rằng heo nhiễm hai loài giun tròn (Ascarops strongylina và Physocephalus sexalatus), những loài cần bọ hung (Ammophorus rubripes) làm vật chủ trung gian có liên quan có ý nghĩa thống kê với sự hiện diện của kháng thể kháng ấu trùng sán dây (chẩn đoán huyết thanh dương tính với ấu trùng sán) ở heo (lần lượt với OR = 4,30; 95%CI = 1,83-10,09 và OR = 2,21; 95%CI = 1,50-3,28) (Arriola và cs., 2014). Gomez-Puerta và cs., 2014) đã xác minh rằng trứng T. solium còn sống có thể tồn tại trong hệ tiêu hóa của bọ hung Am. rubripes lên đến 39 ngày, với tỷ lệ sống sót khoảng 40% ở thời điểm 24 ngày sau khi nhiễm. Bọ hung Ammophorus rubripes mang trứng T. solium đã được thu thập từ các ngôi làng ở Piura, phía Bắc Peru (Vargas-Calla và cs., 2018), trong khi bệnh ấu trùng sán dây đã phát triển ở heo khi được cho ăn thực nghiệm qua đường miệng với bọ hung Am. rubripes mang trứng T. solium (Gomez-Puerta và cs., 2018).
2.4. Bệnh ấu trùng sán lợn: Ký sinh trùng và miễn dịch học của ấu trùng sáu móc, hậu ấu trùng sáu móc và ấu trùng túi
Việc vật chủ trung gian là lợn nuốt phải các mầm bệnh có khả năng gây nhiễm (các trứng trưởng thành riêng lẻ được phóng thích và các đốt sán già mang trứng) dẫn đến sự phát triển của bệnh ấu trùng sán lợn. Sau khi bị nuốt vào, các ấu trùng sáu móc sẽ nở ra và tiếp xúc với mật cùng các enzym; các yếu tố này làm phân rã cấu trúc vỏ trứng, cho phép hòa tan màng ấu trùng sáu móc và kích hoạt các ấu trùng sáu móc trưởng thành trong ruột lợn (Pawlowski và cs., 2002; Flisser và cs., 2013).
Các enzym có nguồn gốc từ ấu trùng sáu móc và các móc nằm trên bề mặt cho phép chúng xuyên qua niêm mạc ruột, nhờ đó các ấu trùng sáu móc đã được kích hoạt có thể xâm nhập vào mạch máu và/ hoặc mạch bạch huyết dưới niêm mạc để phát tán đi xa hơn (Pawlowski và cs., 2002; Flisser và cs., 2013). Sự di chuyển diễn ra đến các vị trí ưa thích bao gồm cơ xương, cơ tim, brain và mô dưới da, nơi giai đoạn ấu trùng sáu móc bắt đầu quá trình phát triển của ấu trùng metacestode thành các ấu trùng có nang nước (vesicular cysticerci) dạng nang trưởng thành còn sống. Pawlowski và cộng sự (2002) đã mô tả một giai đoạn hậu ấu trùng sáu móc.
Tuy nhiên, Rodríguez và cộng sự (2006) không tìm thấy bằng chứng về giai đoạn hậu ấu trùng sáu móc, vốn được định nghĩa là một giai đoạn tiềm ẩn phôi trung gian có khả năng phân chia và di chuyển đến các cơ và mô khác của vật chủ. Yoshino là người đầu tiên nghiên cứu sự phát triển của ấu trùng metacestode sau giai đoạn phôi ở vật chủ lợn (Yoshino, 1933a,b,c), với quá trình trưởng thành kéo dài từ 2-3 tháng (Yoshino và cs., 1933b; Verastegui và cs., 2000). Các cấu trúc gợi ý đến ấu trùng metacestode xuất hiện rõ rệt trong các mô từ rất sớm (2-6 ngày sau khi nhiễm) trong các nghiên cứu ban đầu này (Yoshino và cs., 1933b). Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây hơn lại cho thấy ấu trùng nang lần đầu tiên có thể quan sát được bằng mắt thường vào thời điểm 14 ngày sau khi nhiễm (Garrido và cộng sự, 2007). Sự sản xuất testosterone nội sinh được giả thuyết là đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển của ấu trùng nang, giống như đã được chứng minh ở T. crassiceps (Romano và cộng sự, 2003).
Khi đạt đến độ trưởng thành, các ấu trùng nang nước phát triển thành những nang nhỏ (0,5-1,5 cm), hình cầu hoặc hình bầu dục, chứa một đầu sán lộn vào trong ở buồng bên trong và một buồng bên ngoài chứa dịch nang, được bao bọc bởi một màng nang bán trong suốt (Pawlowski và cs., 2002; Flisser và cs., 2013). Giai đoạn này có khả năng gây nhiễm và ở vật chủ lợn, về mặt hình thái có đặc trưng là ấu trùng dạng cellulose (Flisser và cs., 2013) (nguồn gốc tạo nên tên gọi Cysticercus cellulosae. Sự quan sát trực tiếp các ấu trùng nang (còn sống) ở lợn có thể được thực hiện bằng phương pháp đơn giản nhất là khám lưỡi (sờ nắn lưỡi), mặc dù phương pháp này dễ bỏ sót những cá thể bị nhiễm với cường độ nhẹ (Sciutto và cs., 1998), hoặc bằng phương pháp mổ khám tử thi chuyên sâu hơn, sau đó kiểm tra các mô thịt xẻ (Lightowlers và cs., 2016a).
Một số protein có nguồn gốc từ vật chủ được xác định là có liên quan đến quá trình tăng trưởng, sự tồn tại và khả năng tồn tại lâu dài của ấu trùng nang. Những nghiên cứu này bao gồm việc xác định in vitro đối với yếu tố phát triển biến đổi β (transforming growth factor-β - TGF-β) (Adalid-Peralta và cs., 2017), cùng với việc định vị haptoglobin và hemoglobin của vật chủ trung gian trong dịch nang ấu trùng, đi kèm khả năng liên kết với các thụ thể của ấu trùng (Navarrete-Perea và cs, 2014, 2016). Victor và cộng sự (2012) đã phân tích sâu hơn về hệ proteome của các protein bài tiết-tiết (ES) do ấu trùng T. solium sản sinh, ghi nhận 76 protein, bao gồm 27 protein có nguồn gốc từ T. solium và 32 protein khác nhiều khả năng có nguồn gốc từ T. solium, với phần lớn được cho là tham gia vào sự tồn tại của ký sinh trùng (17 protein còn lại thuộc về vật chủ). Các protein bài tiết-tiết (ES) cũng là những mục tiêu ký sinh trùng quan trọng phục vụ chẩn đoán huyết thanh học bệnh ấu trùng sán lợn, bao gồm các kháng thể đơn dòng được lựa chọn chống lại các protein này trong các xét nghiệm ELISA phát hiện kháng nguyên (Ag-ELISA) (Harrison và cs., 1989; Dorny và cs., 2000). Các phương pháp chẩn đoán dựa trên kháng thể, chẳng hạn như kỹ thuật miễn dịch thấm (immunoblot) được sử dụng rộng rãi (Tsang và cs., 1989), cũng nhắm vào các protein glycoprotein ngoại bào tiết ra thuộc họ 8-kDa nằm trong dịch nang, cùng với các protein màng neo (anchor-membrane) và protein màng tích hợp khác (Hancock và cs., 2004, 2006; Garcia và cs., 2018).
Các chiến lược “né tránh” và giảm thiểu miễn dịch khác do giai đoạn ấu trùng metacestode áp dụng cũng có thể bao gồm việc kích hoạt quá trình chết theo chương trình (apoptosis) của tế bào lympho vật chủ. Quá trình này do các enzym cysteine protease do ký sinh trùng tiết ra phản ứng viêm xung quanh các ấu trùng sán dây ở cả hệ cơ và não lợn (Solano và cs., 2006; Sikasunge và cs., 2008a). Bệnh ấu trùng sán lợn cũng có thể biểu hiện dưới dạng bệnh ấu trùng sán hệ thần kinh trung ương (NCC), với sự khu trú của các ấu trùng nang trong hệ thần kinh trung ương (Central Nervous System-CNS). Nghiên cứu tại Tanzania cho thấy lợn nhiễm NCC tự nhiên xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng và các cơn co giật tương tự như bệnh NCC ở người, trong đó lợn lớn tuổi có nhiều khả năng mang các nang sán thoái hóa và bị co giật hơn (Trevisan và cs., 2016), cùng với những thay đổi về hành vi ở lợn cái bị nhiễm bao gồm giảm thời gian ăn và tăng sự cách ly xã hội (Trevisan và cs., 2017a). Điều này trái ngược với nghiên cứu trước đó của Mkupasi và cộng sự (2015), những người chủ yếu tìm thấy các nang sán còn sống với tình trạng viêm phần lớn ở mức độ nhẹ/ trung bình ở lợn lớn tuổi. Dựa trên những phát hiện này, các tác giả gợi ý rằng lợn thích nghi tốt hơn với giai đoạn nhiễm ấu trùng (vì chúng là vật chủ trung gian tự nhiên), mặc dù các tác giả không kiểm soát thời gian tiếp xúc nhiễm bệnh.
Hiệu quả thiết lập nhiễm sán T. solium ở vật chủ lợn (tỷ lệ trứng thiết lập nhiễm và phát triển thành giai đoạn ấu trùng sán metacestode) dao động từ 0,94% đến 5% tổng số trứng nuốt vào, khi sử dụng liều đầu vào từ 8.400-15.000 trứng (Flisser và cs., 1979; Molinari và cs., 1983; Kumar và cs., 1987; Pathak và Gaur, 1990; Nascimento và cs., 1995). Tsang và cộng sự (1991) đã ghi nhận hiệu quả thiết lập nhiễm là 0,28% khi sử dụng 10.000-20.000 trứng có tỷ lệ sống 20%. Mô hình nhiễm bệnh ấu trùng sán lợn với cường độ thấp (trung vị từ 2-40 nang sán trên mỗi con lợn) cũng đã được phát triển trên những con lợn “mẫn cảm” nuốt phải bọ cánh cứng Ammophorus rubripes chứa 12-52 trứng (tất cả bọ cánh cứng đều đã tiếp xúc với một đốt sán già) (Gomez-Puerta và cs., 2018; Santamaria và cs., 2002). Các nghiên cứu này gợi ý rằng khả năng sống của trứng trước khi gây nhiễm nhân tạo cần phải được xác định, điều không phải lúc nào cũng được thực hiện trong các nghiên cứu trước đây để tính toán một cách đáng tin cậy hiệu quả thiết lập nhiễm (và xác định xem liệu điều này phụ thuộc vào mật độ theo hướng tích cực hay tiêu cực). Santamaria và cộng sự (2002) ước tính rằng sau khi gây nhiễm nhân tạo bằng trứng có tỷ lệ sống 80%, tỷ lệ lợn bị nhiễm ở thời điểm khoảng 2-4 tháng (xác định bằng mổ khám tử thi) là khoảng 87%.
Ngoài ra, những con lợn nhận liều nhiễm thấp (10 hoặc 100 trứng) mang các ấu trùng nang bị bã hóa (ngừng hoạt động), cho thấy hệ miễn dịch vật chủ đã tiêu diệt ấu trùng sán metacestode trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, so với các ấu trùng dạng nang, có khả năng gây nhiễm chủ yếu, cũng được tìm thấy trong não ở những con lợn nhận liều nhiễm cao hơn (1.000 trứng hoặc nhiều hơn) (Santamaria và cs., 2002). Kháng thể cũng được phát hiện ở 40-75% số lợn ở nhóm dùng liều thấp hơn, trong khi 100% số lợn phát triển phản ứng kháng thể ở nhóm dùng liều cao hơn, gợi ý rằng miễn dịch dịch thể (humoral) có liên quan đến giai đoạn phát triển của ấu trùng sán metacestode và mức độ nghiêm trọng (cường độ) của liều mầm bệnh đầu vào. Mối tương quan giữa nồng độ kháng nguyên (Ag) lưu hành và số lượng nang sán còn sống cũng đã được xác nhận (Deckers và cs., 2008).
Conlan và cộng sự (2009) đã gợi ý rằng miễn dịch thu được đối với T. solium có thể được kích thích sau khi nuốt phải trứng (de Aluja và cs., 1996, 1999; Santamaria và cs., 2002; Lightowlers và cs., 2003; Deckers và cs., 2008), do đáp ứng miễn dịch trước hoặc sau khi tạo nang đã được chứng minh ở các loài Taenia khác (Lightowlers và Rickard, 1993). Tương tự, vai trò của độ tuổi tại thời điểm tiếp xúc với trứng lần đầu cũng đã được đề xuất có liên quan đến mức độ mạnh của đáp ứng miễn dịch bẩm sinh (Conlan và cs., 2009). Đề xuất này xuất phát từ nghiên cứu của Deckers và cộng sự (2008); nghiên cứu này ghi nhận ở những con lợn chưa từng nhiễm bệnh (và tại thời điểm 3 tháng sau khi nhiễm) có sự xuất hiện của 98% nang sán còn sống khi lợn bị nhiễm ở 1 tháng tuổi, 45% nang sán còn sống khi lợn bị nhiễm ở 3 tháng tuổi, nhưng phần lớn là các nang sán đã thoái hóa (chỉ 1,5% còn sống) khi lợn bị nhiễm ở 5 tháng tuổi.
Sự bảo vệ của cơ thể mẹ thông qua các kháng thể truyền từ lợn cái sang con qua sữa đầu đã được ghi nhận. Trong các nghiên cứu được thực hiện tại Peru, các kháng thể IgG có nguồn gốc từ mẹ đã được phát hiện ở thời điểm 7 tháng (28 tuần) tuổi (chống lại các peptide tổng hợp) (Handali và cs., 2004) và thậm chí ở thời điểm 35 tuần tuổi (27 tuần sau khi cai sữa) (Gonzalez và cs., 1999). Tuy nhiên, một nghiên cứu tại Zambia chỉ tìm thấy các kháng thể có nguồn gốc từ mẹ kéo dài đến 2 tháng tuổi (Sikasunge và cs., 2010). Ở cả Peru và Zambia, người ta ghi nhận rằng phần lớn các kháng thể IgG bắt đầu suy giảm từ 8 đến 14 tuần tuổi (Gonzalez và cs., 1999; Sikasunge và cs., 2010).
(Còn nữa) (Tiếp theo Phần 3)
TS.BS. Huỳnh Hồng Quang và CN. Nguyễn Thái Hoàng
Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn